Tên đất, tên làng trong dòng chảy tinh gọn

Với người Việt, trong đó có cộng đồng dân tộc trên mảnh đất xứ Tuyên, tên thôn, tên làng là văn hóa, là ký ức ngàn đời hóa thạch vào ngôn ngữ. Trước ngưỡng cửa sáp nhập thôn, bản vào tháng 5-2026, một câu hỏi lớn được đặt ra: Làm sao tinh gọn đơn vị hành chính mà không làm mất đi gốc rễ? Để những đơn vị mới dù lớn về quy mô vẫn vẹn nguyên bản sắc. Báo Tuyên Quang xin giới thiệu loạt bài: 'Tên đất, tên làng trong dòng chảy tinh gọn' nhằm đi sâu phân tích thực trạng tại các địa phương, lắng nghe tâm tư của người dân và tìm kiếm lời giải cho bài toán: Sáp nhập là để mạnh hơn, nhưng cũng là để tôn vinh những giá trị văn hóa.

Bài 1: Tên làng kể chuyện ngàn đời

Tên làng không chỉ là một danh xưng trên bản đồ hành chính, đó là “hóa thạch” của lịch sử, là lời gửi gắm của cha ông qua thăng trầm dâu bể. Tại Tuyên Quang, mỗi danh xưng từ bản cao mờ sương, đến làng ven sông đỏ nặng phù sa đều mang trong mình một cốt cách riêng, một khát vọng vươn mình mạnh mẽ.

Mỗi tên thôn - Một pho sử ký

Nằm giữa lòng chảo xã Thượng Lâm, dưới bóng huyền thoại “Chín mươi chín con phượng hoàng”, thôn Nà Tông từ lâu đã vượt khỏi ý nghĩa địa lý để trở thành biểu tượng của sự phồn vinh vùng cao. Nếu lịch sử dân tộc được ghi lại trên giấy bản, thì tại Nà Tông, ký ức ấy được tạc vào những mùa vàng bất tận - nơi nhịp sống con người hòa quyện sắt son cùng linh hồn của đất.

Theo đồng chí Ma Công Khâm, Chủ tịch UBND xã Thượng Lâm, trong triết lý của người Tày, danh xưng Nà Tông là sự giao thoa giữa hồn đất và khát vọng nhân sinh. “Nà” là ruộng, là mạch sống được bao thế hệ bền bỉ dẫn nước, khai phá. “Tông” lại gợi mở về sự rộng lớn, bao la và viên mãn. Nà Tông chạm đến ngưỡng vọng về một sự no ấm truyền đời, một sự sung túc không hồi kết.

Giữa bốn bề đá dựng, những dải lụa lúa nước bằng phẳng chính là kỳ tích của nghệ thuật dẫn thủy nhập điền. Sự ấm no ở đây hiện hữu trong hương nếp nương thơm nồng dưới nếp nhà sàn và lấp lánh trong niềm tự hào nơi ánh mắt người già khi nhìn về thung lũng được tổ tiên tôn vinh.

Cộng đồng người Tày, thôn Nà Tông, xã Thượng Lâm bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc.

Cộng đồng người Tày, thôn Nà Tông, xã Thượng Lâm bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc.

Giữa đại ngàn biên viễn, hệ thống địa danh của các tộc người Tày, Nùng, Mông, Lô Lô không chỉ là những tọa độ địa lý khô khan mà còn là “mật mã văn hóa” truyền đời, kết tinh từ cuộc bám trụ kiên cường nơi rẻo cao khắc nghiệt.

Theo nhà nghiên cứu Dương Thị Phương, dân tộc Mông, hội viên Hội văn học nghệ thuật tỉnh, phương thức định danh của mỗi dân tộc đều mang hơi thở riêng của lối sống. Nếu người Tày chọn gắn tên bản, tên làng với mạch nguồn sự sống như dòng nước (Khuổi) hay đồng ruộng (Nà), thì người Mông lại khắc dấu ấn vào đá núi, rừng già vào thung lũng.

Đó là Há Đề - đầu nguồn nước; Há Súng - nơi thung lũng bạt ngàn tre nứa; là Cầu Há nơi cửa rừng đại ngàn; hay những Sẩu Há, Há Bua Đa nằm lặng lẽ giữa đại ngàn thâm u. Bên cạnh đó, cũng có những cái tên gợi lên vẻ bằng phẳng, an yên như Lũng Cú, Lũng Phìn, Lũng Cầm, Lũng Hòa, Lũng Thầu… Đặc biệt là Thèn Pả (cánh đồng lớn) - cái tên tự thân đã tạc nên hình hài của một vùng địa hình bằng phẳng hiếm hoi giữa lòng Cao nguyên đá Đồng Văn hùng vĩ.

Sự giao thoa giữa đặc điểm tự nhiên và lịch sử dòng họ đã biến mỗi danh xưng thành một “bảo tàng sống”. Ở đó, mỗi cái tên được xướng lên không chỉ là một địa chỉ mà còn là lời khẳng định về sức sống bền bỉ và khát vọng an cư, biến vùng biên viễn gian khó thành di sản văn hóa trường tồn cùng thời gian.

Cuộc di cư của những danh xưng

Có những tên làng nảy mầm từ thuở hồng hoang, chinh phục vùng đất nhưng cũng có những cái tên được lưu dân “gánh” theo trên vai trong mỗi hành trình vạn dặm. Đó là cách họ mang theo linh hồn quê quán để khỏa lấp nỗi nhớ cội nguồn và dựng xây bản sắc trên miền đất mới.

Hơn sáu thập kỷ trước, những người con từ Gia Khánh (Ninh Bình) đã thực hiện một cuộc thiên di mang tính lịch sử theo tiếng gọi của Đảng đi xây dựng vùng kinh tế mới tại xã Hùng Đức, để rồi đặt tên thôn là Khánh Hùng. Ông Đinh Quốc Cương, một nhân chứng của thời kỳ “khai sơn phá thạch”, bồi hồi nhớ lại: Ngày ấy, giữa vùng đất hoang vu, chúng tôi muốn tìm một điểm tựa tinh thần. Chữ “Khánh” của quê cũ Gia Khánh ghép với chữ “Hùng” của xã sở tại Hùng Đức đã tạo nên danh xưng Khánh Hùng. Đó là lời thề nguyền: Dù đi đâu, gốc rễ vẫn trong tim, nhưng bàn tay phải gieo nhựa sống mới lên mặt đất này.

Dòng chảy văn hóa ấy không đứng yên mà tiếp tục sinh sôi theo nhịp phát triển của cộng đồng. Khi thôn được chia tách để đáp ứng quy mô dân số, chữ “Tân” (mới) được đặt cạnh chữ “Hùng” để khai sinh ra Tân Hùng.

Sự xuất hiện của những địa danh mang âm hưởng đồng bằng Bắc Bộ như: Yên Sở, Minh Khai, Minh Quang, Minh Thái giữa lòng núi rừng xứ Tuyên không đơn thuần là sự dịch chuyển tên gọi, mà là một hiện tượng tiếp biến văn hóa đầy tinh tế. Qua thời gian, những tên làng, tên xã mang theo nỗi nhớ quê hương dưới xuôi đã hòa quyện hoàn toàn vào mạch sống đại ngàn. Để rồi hôm nay, chỉ còn lại một danh xưng chung, một niềm tự hào chung về vùng đất đã dang tay ôm trọn những người con xa xứ, biến họ thành một phần máu thịt không thể tách rời của xứ Tuyên.

Khi tên làng hòa vào vận mệnh quốc gia

Trong dòng chảy văn hóa ấy, những làng cổ ven sông Lô, sông Gâm với tên gọi thuần Việt luôn gợi nhắc về một cội nguồn bền chặt. Đặc biệt, Tuyên Quang sở hữu những địa danh đã vượt ra khỏi phạm vi một đơn vị hành chính để trở thành “địa chỉ đỏ” trong tâm thức mỗi người Việt Nam.

Tân Trào, Kim Quan, Minh Thanh... tên làng đã hòa quyện với vận mệnh đất nước. Thôn Tân Lập (trước đây là Kim Long) đã ghi dấu sự kiện Quốc dân đại hội, nơi phát đi mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Mỗi gốc đa, mái đình nơi đây không còn thuộc về riêng một cộng đồng nhỏ, mà đã trở thành biểu tượng của ý chí tự do và độc lập dân tộc. Tên làng gắn liền với những quyết sách xoay chuyển vận nước, là niềm tự hào kiêu hãnh của mỗi người dân xứ Tuyên khi giới thiệu về quê hương mình với bạn bè quốc tế.

Nói về giá trị của những danh xưng này, ông Ma Văn Đức, nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang khẳng định: Tên thôn, tên làng qua bao nhiêu thế hệ đã ăn sâu vào tâm thức người dân như chiếc rễ bám chặt vào lòng đất. Đó không đơn thuần là danh xưng hành chính để quản lý dân cư, mà là sợi dây nối kết tình cảm, là cái neo giữ gìn truyền thống và là ngọn đuốc truyền cảm hứng cho thế hệ mai sau về lòng yêu quê hương, xứ sở.

(còn nữa)
Bài, ảnh: Đoàn Thư, Quang Hòa, Mộc Lan

►Bài 2: Giữ hồn quê trong danh xưng mới

Nguồn Tuyên Quang: http://baotuyenquang.com.vn/dang-trong-cuoc-song-hom-nay/202604/ten-dat-ten-lang-trong-dong-chay-tinh-gon-e7d18f4/