Thanh kiếm quyền lực

Trong các câu chuyện về kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công ở nước ta năm 1945, hầu như không thể thiếu đề tài: Đại diện chính quyền cách mạng tiếp nhận ấn, kiếm và chứng kiến Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị.

Ấn kiếm của Vua Bảo Đại

Các triều đại phong kiến Trung Quốc đã coi ấn và kiếm là bảo vật truyền quốc, tượng trưng cho ngôi vị của bậc quân chủ. Việc các vua nước ta truyền ấn, kiếm cho thái tử nối ngôi các đời Lý, Trần, sử sách không ghi chép lại.

Chữ "Thái A kiếm" trên lưỡi kiếm được cho là của Vua Gia Long. Ảnh: VQY

Chữ "Thái A kiếm" trên lưỡi kiếm được cho là của Vua Gia Long. Ảnh: VQY

Chỉ từ thời hậu Lê, chính sử có chép việc Vua Lê Thái Tổ, năm 1433, khi sai thái tử Lê Nguyên Long coi quản việc nước, đã ban bố tờ chiếu, đại lược viết rằng: "Trẫm đây tài mọn, đức mỏng, kính vâng mệnh trời, ở ngôi đến nay đã được 6 năm. Bây giờ đã đến lúc mệt mỏi, không siêng chăm được chính sự. Hoàng thái tử, tuổi tuy thơ ấu, nhưng tính nhân từ, hiếu thảo bấy lâu đã thấy tỏ lộ ra ngoài, được mọi người hòa thuận tin theo, đáng hưởng ngôi báu. Vậy, có thể trao cho kiếm và ấn để thay trẫm coi quản việc nước".

Sang thời Nguyễn, chính sử của triều đại này luôn ghi chép việc mỗi khi có vị vua mới kế vị, đều được nhận ấn, kiếm truyền quốc. Hai báu vật này mỗi triều đại có thể khác nhau, nhưng mỗi lần truyền ngôi đều có, cho đến tận đời Vua Bảo Đại.

Về cặp ấn, kiếm này của vị vua cuối cùng trong các triều đại quân chủ nước ta trao cho chính quyền mới, cũng lắm truân chuyên. Chiếc ấn được xác định là ấn "Hoàng đế chi bảo", trong khi chiếc kiếm không có tên. Ấn và kiếm này được chính quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ lưu giữ chỉ đến cuối năm 1946, rồi khi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra, đã được tạm cất giấu ở ngoại thành Hà Nội. Sau đó, quân Pháp phát hiện được các bảo vật này, đã thu giữ và đã trao trả lại cho Bảo Đại, ở cương vị Quốc trưởng chính quyền bù nhìn, năm 1952.

Các bảo vật này theo cựu hoàng sang lưu vong ở Pháp, rồi sau khi cựu hoàng qua đời, ấn đã bị những người thừa kế của ông đem bán. Năm 2022, khi nhà đấu giá Millon (Paris, Pháp) thông báo sẽ đem bán đấu giá công khai ấn báu này, doanh nhân Nguyễn Thế Hồng - một nhà sưu tầm cổ vật ở Bắc Ninh đã thương lượng thành công không qua đấu giá để mua lại ấn "Hoàng đế chi bảo", đem về bảo quản và trưng bày tại bảo tàng tư nhân của ông từ cuối năm 2023.

Trong khi đó, thanh kiếm mà Vua Bảo Đại trao cho chính quyền cách mạng hiện không rõ ra sao. Thông tin từ lúc kiếm bị quân Pháp phát hiện ra ở làng Nghĩa Đô, Hà Nội, thì lưỡi kiếm đã gãy đôi. Có thông tin cho rằng kiếm bị gãy khi đào chạm vào. Lại có thông tin cho rằng do chiếc thùng chôn giấu cổ vật ngắn, nên khi cất giấu, đã phải bẻ gãy lưỡi kiếm mới đút vừa (!?).

Trong sách "Chuyện nội cung cựu hoàng Bảo Đại", nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đắc Xuân dẫn lời bà thứ phi Mộng Điệp, vợ thứ cựu hoàng Bảo Đại rằng, bà đã nhờ 2 người hầu cận là Tứ Lang và Thừa Tể đi hàn lưỡi kiếm lại, rồi nhờ người ta mài để không còn thấy vết gãy.

Thanh kiếm này, theo tài liệu của Lê Văn Lân, tác giả cuốn "Chiếc bảo ấn cuối cùng của Hoàng đế Việt Nam" (xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1998), trên vỏ có khắc dòng chữ "Khải Định niên chế". Tức là thanh kiếm ra đời trong giai đoạn Vua Khải Định, cha của Vua Bảo Đại, còn trị vì, từ năm 1916 đến năm 1925. Theo các hình ảnh từ buổi lễ trao trả ấn, kiếm cho đại diện của Bảo Đại ở Hà Nội năm 1952, thì đây là thanh kiếm lưỡi cong, chuôi kiếm màu ngọc. Thanh kiếm này hiện nay ở đâu chưa xác định được.

Cặp bảo kiếm của Vua Khải Định tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, thanh "An Dân bảo kiếm" ở dưới.

Cặp bảo kiếm của Vua Khải Định tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, thanh "An Dân bảo kiếm" ở dưới.

Hiện nay, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam đang lưu giữ 2 thanh kiếm thời Vua Khải Định, trong đó có thanh bảo kiếm tên là "An Dân bảo kiếm". Đây là loại kiếm lưỡi thẳng, dài hơn 1 mét, chuôi kiếm bằng vàng, đúc nổi 4 chữ Hán "An Dân bảo kiếm", xung quanh 4 chữ này khảm nhiều đá quý. Trong nhiều bức ảnh lịch sử, Vua Khải Định mặc võ phục do vua tự chế và đeo thanh kiếm này bên mình.

Thanh kiếm còn lại là loại kiếm lưỡi cong, chuôi bằng ngọc nạm vàng, đốc kiếm đúc hình con rồng bằng vàng đang nhả ra bao bảo vệ tay cầm. Hình dáng thanh kiếm này rất giống thanh kiếm mà quân đội Pháp trao trả lại cho Vua Bảo Đại năm 1952.

Kiếm Thái A của Vua Gia Long?

Tại Viện Bảo tàng quân đội Pháp đặt tại Điện Thương phế binh (Invalides) ở Paris, Pháp, có trưng bày một thanh kiếm được chú thích là "Kiếm Thái A của Vua Gia Long". Nhà nghiên cứu Võ Quang Yến sống tại Pháp đã có điều kiện được sờ tận tay hiện vật này và chụp một bộ ảnh, công bố trên báo chí. Theo các bức ảnh, đây là một thanh kiếm cong, đốc kiếm đúc hình đầu rồng. Chuôi kiếm bằng ngọc, được chia bằng dãy vòng gân vàng tạo hình thành 7 khúc như 7 đốt tre. Sát tấm bảo vệ tay là một vòng mạ vàng nằm giữa những chuỗi san hô xanh đỏ. Lưỡi kiếm bằng thép sáng, khắc ở phần trên một mặt trời nằm giữa các cuộn mây và 3 chữ Hán "Thái A Kiếm".

Theo Võ Quang Yên, có thể thanh kiếm này cùng các cổ vật quý giá của cung đình nhà Nguyễn đã bị quân Pháp lấy đi trong cuộc tấn công kinh thành Huế rạng sáng ngày 5/7/1885, tức là ngày 23/5 năm Ất Dậu.

Các tài liệu của Pháp cũng ghi lại biên bản nói chuyện trong chuyến thăm xã giao của Vua Đồng Khánh với Toàn quyền Pháp Jean Antoine Ernest Constans ngày 21/3/1888, trong đó nhà vua nhắc rằng các vật phẩm quý giá của hoàng gia bị thất thoát sau biến cố ngày 5/7 và chắc chắn hiện giờ đang nằm trên đất Pháp, giá trị nhất là chuỗi kim cương kết lại từ đời Vua Gia Long cho tới đời Vua Tự Đức, cùng một bảo kiếm nạm ngọc quý truyền lại từ đời Vua Gia Long. Ông Võ Quang Yên suy đoán, có thể thanh kiếm Vua Đồng Khánh nhắc đến này chính là thanh kiếm Thái A đang trưng bày ở Pháp.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lịch sử Phan Thanh Hải và Trịnh Bách đều cho rằng, theo hình ảnh được thể hiện thì thanh kiếm Thái A ở Điện Invalides là thanh kiếm làm vào thời Vua Đồng Khánh chứ không phải kiếm thời Gia Long, do tên gọi (nhuốm màu sắc đạo Lão), đặc điểm cấu tạo (kiếm kiểu phương Tây) và màu sắc (lòe loẹt) của nó.

Còn về thanh kiếm này, thì vào ngày 3/10/1913, kẻ gian đã đột nhập vào Bảo tàng quân đội Pháp và lấy đi phần bao kiếm. Đến nay, vẫn không có thông tin gì về số phận bao kiếm này.

Sử nhà Nguyễn bình về kiếm Thái A

Vậy, vì sao lại có tên kiếm Thái A? Đây là tên một thanh kiếm nổi tiếng từ thời Chiến quốc bên Trung Quốc. Nhiều sách chính sử và dã sử chép rằng, ở nước Sở thời đó, có Âu Dã Tử được coi là người rèn kiếm nổi tiếng nhất lịch sử Trung Hoa. Một lần ngao du, ông đã thấy mạch nước Long Tuyền trên núi Tần Khê, Chiết Giang có ánh sắc kim khí. Biết nơi đây có quặng sắt quý, ông đã cho xẻ núi và lấy được một mảnh thiết anh (sắt tốt). Được Sở vương giúp đỡ, ông đã dồn hết tinh lực và luyện nên bộ 3 thanh bảo kiếm có tên Long Tuyền, Thái A, Công Bố.

Nước Tấn, nước Trịnh, nghe danh kiếm báu, muốn mà không được, bèn cùng nhau xuất quân, vây Sở 3 năm liền. Vua Sở đeo kiếm Thái A đi lên trên thành, tuốt kiếm mà chỉ huy ba quân, cả thắng, đánh phá quân địch tan tành.

Thái A bảo kiếm có nước kiếm sắc ngọt, chém sắt như bùn, sau này rơi về tay Tần Thủy Hoàng Đế, từ đó lịch sử của nó gắn chặt với sự nghiệp thống nhất Trung Quốc của ông. Tần Thủy Hoàng sau khi nhất thống thiên hạ đã cho cắm thanh kiếm báu này trên núi Trâu Tịch để tế cáo trời đất và coi nó như một bảo vật trấn quốc. Như vậy, thanh kiếm Thái A có ý nghĩa tượng trưng cho vương mệnh, cho sự thống nhất quyền lực, và nếu Vua Gia Long sau khi thống nhất đất nước cho đúc một thanh kiếm đặt tên là Thái A cũng là dễ hiểu. Nhưng, sử sách nhà Nguyễn để lại cũng không ghi rõ là Vua Gia Long sai làm thanh kiếm Thái A khi nào, quy cách của nó hay việc sử dụng ra sao.

Tuy nhiên, kiếm Thái A lại là một khuôn mẫu mà các nhà sử học trong Quốc sử quán triều Nguyễn thường xuyên sử dụng để phê phán việc các vua thời Lê trung hưng bị chúa Trịnh lấn át, đè nén.

Trong bộ chính sử "Khâm định Việt sử thông giám cương mục", khi chép sự kiện năm Thận Đức thứ nhất, đời Vua Lê Kính Tông (1600), nhà vua chủ trì lễ tế Nam Giao vào đầu tháng Giêng, chúa Trịnh Tùng đem trăm quan theo hầu để dự lễ bồi tế, lời "cẩn án" của các sử quan triều Nguyễn bình rằng: "Việc tế Giao hằng năm, người chép nối sử triều Lê đều không chép. Họ lấy cớ rằng, việc này là theo thể lệ thường như thế. Nay, nhà Lê từ lúc trung hưng trở về sau, kiếm Thái A đã để người khác nắm đằng chuôi, người dưới lấn quyền, người trên thất thế, lai lịch dẫn đến như thế kể đã từ lâu, nói về lễ nghĩa vua tôi đã đổ nát hết, chỉ còn việc Nam giao tế trời là còn giữ được thân phận tôn ti mà thôi. Nếu cho việc ấy là theo lệ thường mà không chép thì lễ nghĩa vua tôi hầu như mất sạch sành sanh. Nay, truy nguyên ra, thì nhà Lê mất quyền bính thực tế là bắt đầu từ lúc Trịnh Tùng xưng tước vương vào cuối đời Thế Tông, đầu đời Kính Tông". Do đó, các sử quan triều Nguyễn xác định, từ năm đó về sau, mỗi khi chép về các vua Lê lúc bắt đầu lên ngôi nối nghiệp, đều cẩn thận mà chép việc tế Nam giao. "Chép như thế, là để ghi sự biến trong đời mà giữ lấy danh phận vua tôi vậy".

Hoặc, đến năm Cảnh Trị thứ 2, đời Vua Lê Huyền Tông (1664), khi chép đến đoạn chúa Trịnh Tạc được phép vào chầu vua không phải lạy, tờ chương tấu không phải xưng tên, đặt chỗ ngồi ở bên tả chỗ ngồi của vua, các sử quan nhà Nguyễn cũng chua chát bình rằng: "Từ đây trở đi, thanh kiếm Thái A, họ Lê nắm đằng lưỡi, họ Trịnh nắm đằng chuôi, mất hết lễ nghi đường bệ".

Nguyên văn ý đó chép là "Thái A đảo trì" ý nói người làm vua không biết giữ lấy quyền bính mà giao cho người khác thì cũng như người có thanh kiếm sắc mà để người khác giữ đằng chuôi, mình giữ đằng lưỡi, tất nhiên bị hại.

Lê Tiên Long

Nguồn ANTG: https://antgct.cand.com.vn/nhan-dam/thanh-kiem-quyen-luc-i803866/