Tháo gỡ điểm nghẽn để khoa học công nghệ phát huy hiệu quả trong nông nghiệp

Từ phát triển vùng nguyên liệu, nuôi trồng thủy sản đến truy xuất nguồn gốc, các địa phương đề xuất giải pháp đưa khoa học công nghệ, chuyển đổi số vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp.

Ông Nguyễn Thành Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La. Ảnh: Bộ NN và MT

Ông Nguyễn Thành Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La. Ảnh: Bộ NN và MT

Sáng 27/10, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an tổ chức Hội nghị Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp khu vực miền Bắc. Hội nghị do Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng và Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Long đồng chủ trì.

Tại hội nghị, đại diện các địa phương chia sẻ những kết quả, khó khăn và đề xuất giải pháp ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số vào sản xuất, từ phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản đến truy xuất nguồn gốc nông sản.

*Gắn khoa học công nghệ với chuỗi giá trị

Ông Hoàng Gia Long, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang cho biết, địa phương hiện có hơn 858.000 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 62,2%, đứng thứ hai cả nước. Trong đó, hơn 130.000 ha được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Toàn tỉnh có 583 cơ sở chế biến lâm sản, sản lượng gỗ khai thác đạt khoảng 1,4 triệu m3. Tuy nhiên, việc phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn vẫn gặp nhiều khó khăn.

Tuyên Quang xác định ứng dụng khoa học, công nghệ phải gắn với tổ chức lại chuỗi giá trị lâm nghiệp. Tỉnh chú trọng sử dụng giống chất lượng cao, ứng dụng công nghệ viễn thám và dữ liệu số để lựa chọn vùng trồng, xác định chu kỳ khai thác phù hợp; đồng thời thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp chế biến, hợp tác xã và người trồng rừng.

Địa phương đề xuất Bộ Nông nghiệp và Môi trường hỗ trợ nghiên cứu hiệu quả kinh tế rừng gỗ lớn, lựa chọn Tuyên Quang thí điểm mô hình vùng nguyên liệu bền vững gắn với truy xuất nguồn gốc và chế biến sâu. Theo ông Hoàng Gia Long, hiệu quả ứng dụng khoa học, công nghệ cần được đánh giá bằng giá trị gia tăng và thu nhập thực tế của người trồng rừng, thay vì chỉ dựa vào số lượng phần mềm hay mô hình ứng dụng.

Ông Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch thành phố Quảng Ninh. Ảnh: Bộ NN và MT

Ông Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch thành phố Quảng Ninh. Ảnh: Bộ NN và MT

Trong lĩnh vực thủy sản, ông Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND thành phố Quảng Ninh, cho biết thủy sản chiếm trên 45% giá trị toàn ngành nông nghiệp của tỉnh. Hàu Thái Bình Dương tiếp tục khẳng định là đối tượng nuôi chủ lực của tỉnh.

Quảng Ninh đã ban hành đề án phát triển nuôi trồng thủy sản tập trung theo hướng công nghiệp, hiện đại, định hướng bố trí 5 vùng nuôi, từng bước dịch chuyển hoạt động nuôi ra xa bờ nhằm giảm áp lực môi trường. Tỉnh ưu tiên khu vực trong phạm vi 3 hải lý để bảo đảm sinh kế cho người dân, nhất là các hộ chuyển đổi từ khai thác sang nuôi trồng thủy sản và người thuộc diện giải phóng mặt bằng có nhu cầu chuyển đổi nghề; đồng thời khuyến khích hợp tác xã, doanh nghiệp đầu tư phát triển các vùng nuôi biển xa bờ.

Tuy nhiên, phát triển nuôi biển còn gặp nhiều điểm nghẽn, nhất là thiếu quy hoạch chi tiết không gian nuôi, xung đột giữa các đối tượng nuôi và hạn chế trong đánh giá sức tải môi trường. Đối với hàu Thái Bình Dương, mật độ nuôi cao trong khi thiếu nghiên cứu về nguồn thức ăn tự nhiên đã ảnh hưởng đến năng suất. Nguồn giống tại chỗ mới đáp ứng khoảng 30-34% nhu cầu; công nghệ chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch, xử lý chất thải còn hạn chế. Hệ thống truy xuất nguồn gốc và quan trắc môi trường cũng chưa được số hóa đồng bộ.

Theo ông Nguyễn Văn Công, để nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị hàu Thái Bình Dương, Quảng Ninh cần chuyển từ phát triển theo kinh nghiệm sang dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu và quản trị hiện đại.

Tỉnh đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường hỗ trợ kết nối các chương trình nghiên cứu, chuyển giao công nghệ nuôi biển tiên tiến; hướng dẫn quy trình, quy chuẩn kỹ thuật về nuôi hàu an toàn sinh học; hoàn thiện hành lang pháp lý và thí điểm các mô hình nuôi biển công nghiệp. Đồng thời, tỉnh mong muốn các bộ, ngành và viện nghiên cứu Trung ương hỗ trợ triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ liên ngành nhằm xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến sinh trưởng của hàu, giải mã gen, chọn tạo và phục tráng các dòng hàu bố mẹ sạch bệnh, chất lượng cao.

Quảng Ninh cũng kêu gọi doanh nghiệp, nhà đầu tư tham gia phát triển chuỗi giá trị nuôi trồng, chế biến sâu và thương mại hóa sản phẩm từ hàu. Dự kiến năm 2027, tỉnh bố trí khoảng 2.000 tỷ đồng cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Địa phương sẽ lựa chọn các vùng nuôi hàu tập trung để thí điểm mô hình tổng hợp, từ kiểm soát chất lượng giống, tối ưu quy trình nuôi đến giám sát môi trường bằng công nghệ số và truy xuất nguồn gốc; đánh giá độc lập hiệu quả kinh tế, kỹ thuật trước khi nhân rộng.

Các sản phẩm từ hàu. Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Các sản phẩm từ hàu. Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

*Đẩy mạnh số hóa vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc

Đối với tỉnh Sơn La, truy xuất nguồn gốc được xác định là nền tảng để tổ chức lại vùng nguyên liệu cà phê Arabica, xác định ranh giới các thửa đất trồng và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Ông Nguyễn Thành Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La cho biết, tỉnh tập trung triển khai các yêu cầu của Liên minh châu Âu về chống phá rừng (EUDR), đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận các thị trường tiềm năng khác. Số hóa vùng trồng không chỉ phục vụ truy xuất nguồn gốc mà còn giúp xác định khu vực phù hợp để phát triển cà phê, quy hoạch vùng sản xuất tập trung và nâng cao hiệu quả quản lý.

Theo ông Nguyễn Thành Công, sự phối hợp giữa doanh nghiệp và chính quyền giúp đẩy nhanh tiến độ triển khai EUDR và cấp mã số vùng trồng. Một số doanh nghiệp đã chuyển giao toàn bộ dữ liệu vùng nguyên liệu của các nhà máy cho tỉnh để tích hợp vào cơ sở dữ liệu chung. Cách làm này giúp rút ngắn thời gian, chuẩn hóa dữ liệu theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống”, phục vụ chia sẻ, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia.

Tại Hà Nội, với nhu cầu tiêu thụ nông, lâm, thủy sản phục vụ khoảng 10 triệu người, truy xuất nguồn gốc được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm. Thành phố có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và hơn 1.700 cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản.

Theo ông Bùi Duy Cường, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, từ năm 2018, thành phố đã triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản tại địa chỉ hanoicheck.hanoi.gov.vn, từng bước ứng dụng công nghệ và dữ liệu vào quản lý sản xuất tại cơ sở.

Đáng chú ý, Hà Nội đã phối hợp với các địa phương hình thành, kiểm soát 1.388 chuỗi cung ứng nông sản, thực phẩm an toàn; phát triển hơn 3.400 sản phẩm OCOP, gắn truy xuất nguồn gốc với liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản.

Trong quá trình số hóa hồ sơ, thành phố đã kết nối dữ liệu với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đăng ký các nhóm sản phẩm ưu tiên phục vụ quản lý, truy xuất nguồn gốc. Từ ngày 3/8/2026, hệ thống cơ sở dữ liệu về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm của Hà Nội chính thức vận hành, tiếp nhận đăng ký tài khoản và hồ sơ trực tuyến.

Ông Bùi Duy Cường cho biết, thời gian tới, thành phố sẽ tập trung hoàn thiện hạ tầng, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu với hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất, giám sát, cảnh báo và truy xuất nguồn gốc; đồng thời nâng cao năng lực số cho hợp tác xã, doanh nghiệp, nông dân, gắn với trách nhiệm truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng thực phẩm.

Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/thao-go-diem-nghen-de-khoa-hoc-cong-nghe-phat-huy-hieu-qua-trong-nong-nghiep/442068.html