Tháo gỡ điểm nghẽn để tăng tốc xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cuối năm

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản duy trì tăng trưởng nhưng nhiều điểm nghẽn về vùng nguyên liệu, logistics, thị trường vẫn cản đà bứt phá và cần sớm được tháo gỡ.

Chiều 30/7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị với các hiệp hội ngành hàng về thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm triển khai ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại Hội nghị Thúc đẩy xuất khẩu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng nhưng áp lực gia tăng

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, 6 tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp. Cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, biến động giá năng lượng, chi phí logistics và các rào cản thương mại đã tác động mạnh đến hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, sự điều hành của Chính phủ cùng sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, ngành nông nghiệp và môi trường vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực.

Sản lượng lúa Đông Xuân cơ bản hoàn thành kế hoạch

Sản lượng lúa Đông Xuân cơ bản hoàn thành kế hoạch

Tăng trưởng GDP toàn ngành trong 6 tháng đầu năm đạt khoảng 3,8-3,85%, vượt mục tiêu 3,5% Chính phủ giao. Sản xuất nông, lâm, thủy sản tiếp tục phát triển ổn định, chăn nuôi phục hồi mạnh, thủy sản tăng trưởng tích cực, lâm nghiệp phát triển bền vững và sản lượng lúa Đông Xuân cơ bản hoàn thành kế hoạch. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 6 tháng đầu năm đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2025; ước 7 tháng đạt gần 42,6 tỷ USD, tương đương 57,6% kế hoạch năm. Nhiều mặt hàng tiếp tục là động lực tăng trưởng như gỗ và sản phẩm gỗ đạt 8,54 tỷ USD, tăng 4,4%; rau quả đạt 3,65 tỷ USD, tăng 17,7%; sầu riêng đạt hơn 950 triệu USD, tăng 31,1%.

Đáng chú ý, từ ngày 1/7/2026, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản quốc gia chính thức đi vào vận hành, góp phần nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và tăng sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Bên cạnh kết quả đạt được, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vẫn đối mặt nhiều thách thức. Giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực như cà phê, gạo, cao su và chè giảm do giá xuất khẩu bình quân đi xuống; trong khi các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển xanh, giảm phát thải. Đặc biệt, Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) đặt ra những yêu cầu khắt khe đối với doanh nghiệp và toàn bộ chuỗi sản xuất.

Theo Thứ trưởng, để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GDP toàn ngành đạt tối thiểu 4% và đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 74 tỷ USD trong năm 2026, cần tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về vùng nguyên liệu, logistics, chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn xanh và đa dạng hóa thị trường; đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng, cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nhằm mở rộng thị trường, tháo gỡ rào cản thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu.

Doanh nghiệp đề xuất tháo gỡ hàng loạt 'nút thắt'

Tại hội nghị, nhiều hiệp hội ngành hàng cho rằng những tồn tại trong chuỗi sản xuất - xuất khẩu đang làm giảm sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Đại diện Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói vẫn còn nhiều bất cập. Thủ tục kéo dài, quy định giữa thực tế sản xuất và yêu cầu của thị trường nhập khẩu còn nhiều khác biệt, trong khi tình trạng mua bán, giả mạo mã số vùng trồng vẫn diễn ra, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng uy tín nông sản Việt Nam.

Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng (bên phải) và Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp (bên trái) đồng chủ trì hội nghị.

Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng (bên phải) và Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp (bên trái) đồng chủ trì hội nghị.

Hiệp hội cũng phản ánh công tác quản lý vật tư nông nghiệp, hóa chất bảo quản chưa chặt chẽ, dẫn đến nhiều lô hàng bị phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hoặc hóa chất cấm. Cùng với đó, hệ thống kiểm nghiệm, kiểm dịch thực vật còn quá tải, thời gian lấy mẫu và trả kết quả kéo dài, làm tăng chi phí và ảnh hưởng tiến độ xuất khẩu.

Để khắc phục, Hiệp hội kiến nghị đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng theo hướng số hóa, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; tăng cường phổ biến các quy định về SPS, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số; đẩy nhanh mở cửa thị trường cho các mặt hàng tiềm năng như dứa, na, bơ, mận; đồng thời tháo gỡ vướng mắc về hoàn thuế giá trị gia tăng và chứng từ mua bán giữa doanh nghiệp với nông dân.

Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, cho biết Philippines vẫn là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam nhưng các chính sách quản lý nhập khẩu mới đang gây khó khăn cho doanh nghiệp. Hiệp hội kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tăng cường trao đổi với phía Philippines, thúc đẩy cơ chế đối thoại giữa hiệp hội hai nước để xử lý các vướng mắc, đồng thời mở rộng xuất khẩu sang thị trường châu Phi nhằm giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống.

Đối với ngành hàng sầu riêng, ông Lê Anh Trung, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đắk Lắk, đề xuất tập trung phát triển vùng nguyên liệu bền vững, chuẩn hóa quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, đẩy mạnh chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và đầu tư vào chế biến, logistics, bảo quản sau thu hoạch để nâng cao giá trị gia tăng.

Trong khi đó, ông Đỗ Ngọc Tài, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, cho rằng để cùng toàn ngành nông nghiệp hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026, ngành thủy sản cần đổi mới mô hình tăng trưởng theo bốn trụ cột: tối ưu chi phí sản xuất và nâng cao giá trị gia tăng thông qua chế biến sâu; khai thác tối đa dư địa về sản phẩm và thị trường; tháo gỡ các điểm nghẽn trong chuỗi cung ứng để bảo đảm lưu thông nguyên liệu và hàng hóa; đồng thời ưu tiên mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu trong 2-3 năm tới.

Ông Đỗ Ngọc Tài cũng kiến nghị các bộ, ngành cần sớm có giải pháp khơi thông nguồn nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu; xây dựng chương trình hành động theo từng thị trường trọng điểm; giảm chi phí logistics, vận tải biển; đồng thời tháo gỡ khó khăn về vốn và lao động để doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 6 tháng cuối năm, ngành sẽ chuyển mạnh từ tăng trưởng theo sản lượng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng, giá trị gia tăng, thương hiệu và chuyển đổi số, lấy thị trường làm định hướng, doanh nghiệp làm trung tâm và người sản xuất là chủ thể. Cùng với việc hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh tái cơ cấu ngành và kiểm soát chặt chất lượng, Bộ sẽ phối hợp với các hiệp hội ngành hàng kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 74 tỷ USD trong năm 2026.

Năm 2026, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 4%, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trên 74 tỷ USD. Trọng tâm là duy trì tăng trưởng các ngành hàng chủ lực như gỗ, rau quả, thủy sản, cà phê, hạt điều, chăn nuôi, đồng thời ổn định thị trường và nâng cao giá trị xuất khẩu đối với gạo, cao su, chè và các mặt hàng chịu tác động từ biến động quốc tế.

Nguyễn Hạnh

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/thao-go-diem-nghen-de-tang-toc-xuat-khau-nong-lam-thuy-san-cuoi-nam-467300.html