Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực thực chất cho tăng trưởng hai con số
Việc nhận diện trúng những điểm nghẽn, đổi mới tư duy phát triển và tăng cường kết nối giữa các chủ thể trong hệ sinh thái sẽ góp phần đưa kinh tế số trở thành động lực thực chất cho tăng trưởng hai con số.

Diễn đàn Kinh doanh 2026 với chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới”
Kinh tế số Việt Nam chuyển biến tích cực và nhiều dư địa phát triển
Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ, kinh tế số không còn chỉ được nhìn nhận như một lĩnh vực công nghệ riêng biệt mà ngày càng trở thành một cấu phần quan trọng của nền kinh tế. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và các nền tảng số đang từng bước thay đổi cách thức doanh nghiệp tổ chức sản xuất, quản trị, cung ứng dịch vụ và tiếp cận thị trường. Việc ứng dụng công nghệ không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí, cải thiện hiệu quả vận hành mà còn mở rộng khả năng đổi mới, nâng cao năng suất và tạo ra những phương thức kinh doanh mới.
Trong tiến trình phát triển mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những động lực quan trọng của tăng trưởng. Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP, qua đó đặt ra yêu cầu phát triển kinh tế số theo hướng không chỉ mở rộng về quy mô mà còn phải nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng đóng góp thực chất vào năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Những kết quả đạt được trong thời gian qua cho thấy kinh tế số Việt Nam đang có nhiều chuyển biến tích cực. Phát biểu tại Diễn đàn Kinh doanh 2026 với chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới” tổ chức chiều 14/8/2026, ông Bùi Trung Nghĩa - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho biết, gắn liền với tiến trình chuyển đổi số quốc gia, những năm qua, kinh tế số đã khẳng định vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế, góp phần định hình lực lượng sản xuất hiện đại, là nền tảng đưa Việt Nam phát triển bứt phá trong kỷ nguyên số.
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Tốc độ tăng trưởng 2 con số duy trì trong nhiều năm, nền kinh tế số Việt Nam vươn lên đứng thứ hai ở Đông Nam Á và ở nhóm nền kinh tế số phát triển nhanh nhất. Trong đó, thương mại điện tử tiếp tục giữ vai trò trụ cột khi chiếm 2/3 quy mô nền kinh tế số.
Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030 đã đặt mục tiêu phấn đấu tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%; hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến; phát triển, thúc đẩy và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu. Để đạt được mục tiêu đó, cần phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt, phát huy vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp công nghệ lớn, doanh nghiệp nhà nước thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Khuyến khích doanh nghiệp công nghệ số chủ động áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật về an ninh mạng và tăng cường phối hợp, trao đổi, cung cấp thông tin với cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật.

Ông Bùi Trung Nghĩa - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: Kinh tế số đã khẳng định vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế
Dự báo về sự phát triển kinh tế số tại khu vực ASEAN, trong đó có Việt Nam, ông Nguyễn Hoa Cương - Phó Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) dẫn số liệu từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) cho thấy, tổng doanh thu kinh tế số giai đoạn 2019 - 2025 đã vượt 300 tỷ USD, dự kiến cán mốc 1.000 tỷ USD vào năm 2030. Con số này có thể tăng lên gấp đôi, lên tới 2.000 tỷ USD nếu Hiệp ước Khung kinh tế số ASEAN (DEFA) được thông qua.
Tại Việt Nam, với khoảng 85,6 triệu người sử dụng internet và vẫn đang gia tăng đều qua các năm đã góp phần thúc đẩy kinh tế số tăng trưởng mạnh mẽ. Theo Báo cáo e-Conomy SEA 2025 do Google, Temasek và Bain & Company thực hiện, Việt Nam là nền kinh tế số có tốc độ phát triển nhanh thứ hai tại Đông Nam Á. Quy mô kinh tế số Việt Nam đạt 39 tỷ USD vào năm 2025 với mức tăng trưởng hai con số mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực.
Thương mại điện tử là trụ cột khi chiếm tới 2/3 tổng giá trị hàng hóa kinh tế số. Theo thống kê, số người Việt Nam mua hàng online đạt 24,3 triệu, chiếm gần 1/4 dân số với tổng doanh thu tiêu dùng đạt 13,8 tỷ USD.

Ông Nguyễn Hoa Cương - Phó Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) trao đổi về triển vọng và yêu cầu đổi mới tư duy phát triển kinh tế số. (Ảnh: Quốc Tuấn)
Nhận diện những điểm nghẽn
Rõ ràng, kinh tế số đang mở ra dư địa phát triển lớn cho doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế Việt Nam. Qua thực tế hoạt động của doanh nghiệp, việc gắn kết các hoạt động số mang tính cốt lõi vào mô hình sản xuất kinh doanh có thể góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng lao động thông qua tối ưu hóa quy trình, cải thiện khả năng xử lý thông tin và khai thác tốt hơn các yếu tố công nghệ. Tuy nhiên, tốc độ phát triển vẫn chưa hoàn toàn tương xứng với tiềm năng. Giá trị gia tăng của kinh tế số còn thấp, năng lực công nghệ lõi còn hạn chế và mức độ lan tỏa chưa đồng đều.
Tại Diễn đàn, đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia, tổ chức nghiên cứu, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp cùng nhận diện rõ những “nút thắt” đang cản trở sự phát triển của kinh tế số, từ cơ chế, chính sách, hạ tầng, dữ liệu đến nguồn nhân lực và khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp. Đây không chỉ là những vấn đề riêng của một ngành hay một nhóm doanh nghiệp, mà là những yếu tố có tác động trực tiếp đến tốc độ chuyển đổi số, khả năng đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn mới.
Bên cạnh những cơ hội lớn, ông Nguyễn Hoa Cương đề cập một số điểm nghẽn trong phát triển kinh tế số tại Việt Nam. Đó là sự kết hợp hạ tầng cứng (ICT, logistics) với hạ tầng mềm (xã hội, văn hoá); yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý với cơ chế sandbox cho tài sản số, mở dữ liệu, AI. Cùng với đó là những điểm nghẽn khác liên quan đến thực hiện đầu tư công, mức độ chấp nhận rủi ro các hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Trong khi đó, chính sách hỗ trợ tuy nhiều nhưng đang tồn tại khoảng cách với yêu cầu thực thi hiệu quả.
Nhìn từ góc độ doanh nghiệp, các điểm nghẽn được nhận diện là năng lực cạnh tranh hạn chế, nhất là ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, khả năng tiếp cận tài chính khó khăn đang là rào cản đối với việc vận hành, mở rộng, đầu tư, nhất là đáp ứng yêu cầu đổi mới khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo…
Điều đó cho thấy vấn đề của chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay không còn dừng ở câu chuyện “có chuyển đổi hay không”, mà đang chuyển sang câu hỏi quan trọng hơn: làm thế nào để chuyển đổi số thực sự tạo ra năng suất, hiệu quả và giá trị gia tăng; làm thế nào để công nghệ được hấp thụ rộng hơn và tạo ra tác động rõ nét hơn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh?...
Tháo gỡ những điểm nghẽn, thúc đẩy kinh tế số bứt phá
Trong khuôn khổ Diễn đàn, phiên thảo luận chuyên sâu 1 với chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn, tạo nền tảng phát triển kinh tế số” đã tập trung phân tích những đòn bẩy thể chế cho tăng trưởng hai con số; yêu cầu phát triển hạ tầng và dữ liệu số; những rào cản trong quá trình chuyển đổi số; đồng thời tìm kiếm giải pháp nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp trong bối cảnh yêu cầu phải thay đổi nhanh hơn, linh hoạt hơn và chủ động hơn trước những biến chuyển của thị trường và công nghệ.

Các diễn giả trao đổi tại phiên thảo luận 1: Tháo gỡ điểm nghẽn, tạo nền tảng phát triển kinh tế số
Ở góc nhìn tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, ông Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội chia sẻ 3 bài học kinh nghiệm với tư cách là người tham gia vào công tác xây dựng pháp luật.
Thứ nhất, luật pháp chỉ nên ban hành quy định khi cái mới đó có nguy cơ đáng kể gây ra rủi ro mà các quy định hiện hành không thể kiểm soát được.
Thứ hai, cần chuyển từ quy định truyền thống sang quy định thông minh (Smart Regulation). Nhà nước chỉ nên quản lý mục tiêu/kết quả, thay vì can thiệp sâu vào cách doanh nghiệp vận hành.
Thứ ba, thay vì số hóa quy trình cũ, phải thiết kế lại hoàn toàn thủ tục dựa trên tư duy số.
Theo ông Phan Đức Hiếu, để gỡ điểm nghẽn thể chế, cần thay đổi tư duy làm luật. Ông cho rằng hãy quan tâm đến việc công nghệ đó tạo ra bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế. Thể chế phải tạo không gian cho sự đổi mới thay vì trở thành rào cản cho sự sáng tạo.
Bên cạnh đó, phiên thảo luận chuyên sâu 2 với chủ đề "Kinh tế số mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp" mở rộng góc nhìn từ cấp độ chính sách tới thực tiễn sản xuất, kinh doanh, tập trung vào việc ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tái cầu trúc doanh nghiệp; chuyển đổi số trong các lĩnh vực du lịch, dệt may, công nghiệp hỗ trợ, ngân hàng, thương mại điện tử và sản xuất; phát triển thị trường dữ liệu; đào tạo nguồn nhân lực; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ở góc nhìn Hiệp hội doanh nghiệp, bà Đỗ Thị Thuý Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam cho biết, các doanh nghiệp điện tử Việt Nam đã chuyển đổi số từ xa, từ sớm hướng tới mục tiêu lớn. Đó là dịch chuyển từ việc tham gia chuỗi cung ứng tiến lên nâng cao vị thế trong chuỗi. Nhìn vào đường cong nụ cười của chuỗi cung ứng điện tử, các doanh nghiệp điện tử đã thoát đáy đường cong. Chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong tiến trình này, qua đó thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng giá trị sản phẩm.
Bên cạnh những kết quả đạt được, theo bà Đỗ Thị Thuý Hương, các doanh nghiệp điện tử cần quan tâm nâng cao một số năng lực cốt lõi.
Thứ nhất, năng lực công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo. Chuyển đổi số giúp doanh nghiệp số hoá toàn bộ quá trình sản xuất và quản trị, chỉ có số hoá toàn bộ quá trình này mới có thể chuyển đổi tư duy ứng dụng công nghệ sang làm chủ công nghệ.
Thứ hai, năng lực chất lượng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế của doanh nghiệp. Để tham gia chuỗi ở vị thế cao hơn, giá rẻ chưa đủ, khách hàng hiện quan tâm đến năng lực cốt lõi như chất lượng, khả năng giao hàng, truy xuất nguồn gốc, an toàn thông tin, ESG, khả năng xử lý rủi ro. Đây là yếu tố để doanh nghiệp mở rộng sản xuất và đi chặng đường dài.
Thứ ba cũng quan trọng là nguồn nhân lực. Công nghệ có thể mua, máy móc có thể đầu tư nhưng để vận hành máy móc, chỉ có con người. Doanh nghiệp cần đầu tư nhân lực tốt, đủ năng lực làm việc với doanh nghiệp đầu chuỗi.
Thứ tư, năng lực liên kết của doanh nghiệp. Khi tạo ra những liên kết tốt, doanh nghiệp mới đổi mới sáng tạo, mới chuyển đổi số hiệu quả và cùng giải quyết các vấn đề đặt ra với doanh nghiệp đầu chuỗi.
Cuối cùng, nâng cao năng lực khả năng đáp ứng nhanh, có hiệu quả.
Chia sẻ tại phiên Thảo luận, ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện Chính sách và phát triển truyền thông (ISP) cho rằng, Việt Nam nên hướng tới phát triển dữ liệu trở thành một thị trường để có thể khai thác được.
"Chúng ta có dữ liệu nhưng mà chưa chuyển dữ liệu trở thành một thị trường thị trường hàng hóa, bởi vì chúng ta đang thiếu các bên tham gia vào một chuỗi giá trị dữ liệu", ông Nguyễn Quang Đồng nhận định và kiến nghị, đối với thị trường dữ liệu Việt Nam, trong ngắn hạn nên ưu tiên những loại dữ liệu đã hình thành được đặc tính hàng hóa, tức là bên cung có dữ liệu đầy đủ, phục vụ được đa ngành. Như vậy, chúng ta sẽ có một lộ trình từng bước để thúc đẩy biến dữ liệu từ tất cả các lĩnh vực trở thành một thị trường có người bán, có người mua, có sàn giao dịch và phát huy được cao nhất các giá trị dữ liệu mà chúng ta đang có.

Các diễn giả trao đổi tại phiên thảo luận 2 của Diễn đàn với chủ đề "Kinh tế số mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp". (Ảnh: Quốc Tuấn)
Thông qua các tham luận và trao đổi thực tiễn, Diễn đàn nhấn mạnh những kiến nghị có giá trị khoa học và thực tiễn, góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực xã hội và tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh. Trong dài hạn, việc hình thành một môi trường thuận lợi cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ là nền tảng để kinh tế số phát triển theo chiều sâu, tạo ra giá trị gia tăng cao hơn và lan tỏa mạnh hơn tới các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.
Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 xác định mục tiêu về phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế: Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; phát triển, thúc đẩy và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu, bảo đảm an toàn, tuân thủ quy định của pháp luật; Tỷ trọng doanh thu thương mại điện tử so với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt từ 15 - 17%.
Phấn đấu đạt 45% số doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực thương mại tham gia các sàn thương mại điện tử lớn trong và ngoài nước; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 lần GDP; trên 40% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận, sử dụng nền tảng “mô hình như một dịch vụ”, tác nhân AI hoặc giải pháp AI dùng chung.

