Tháo gỡ tồn tại nhưng không hợp thức hóa sai phạm về đất đai
Chiều 19/8, thảo luận tại tổ về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, các đại biểu cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi luật, cho rằng đây là đạo luật có phạm vi tác động rất rộng, liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp, sự phát triển của từng địa phương và cả nền kinh tế.
Các ý kiến cũng đồng tình với tinh thần sửa luật lần này là tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn, giải phóng nguồn lực đất đai, tăng phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục nhưng đồng thời phải bảo đảm công bằng, minh bạch, sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững.

Đoàn đại biểu các tỉnh Gia Lai và Hưng Yên thảo luận ở tổ. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Xử lý tồn đọng lịch sử trong cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Cho ý kiến cụ thể về thẩm quyền thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai quy định tại Điều 18, đại biểu Tô Ái Vang (Cần Thơ) phân tích, dự thảo Luật đưa ra hai phương án để lựa chọn. Theo phương án 1 (luật hóa quy định Nghị định số 49/2026/NĐ-CP, giao thẩm quyền cơ bản cho UBND cấp tỉnh, sau đó căn cứ tình hình địa phương để phân cấp, ủy quyền) thì với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, UBND cấp tỉnh sẽ rơi vào tình trạng quá tải hành chính. Toàn bộ hồ sơ giao đất, cấp Giấy chứng nhận, thu hồi đất lẻ của hàng triệu hộ gia đình, cá nhân dồn lên cấp tỉnh sẽ dẫn đến chậm trễ nghiêm trọng, gây phiền hà cho dân.
Còn phương án 2, UBND cấp xã quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với cá nhân, cộng đồng dân cư; đồng thời quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với cá nhân, cộng đồng dân cư. Phương án này phù hợp với tinh thần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền: Cấp tỉnh tập trung làm quy hoạch, chiến lược, kiểm tra, giám sát. Cấp xã trực tiếp giải quyết công việc hàng ngày liên quan đến quyền lợi của dân.
“Cấp xã sát dân, nắm rõ nguồn gốc đất và hiện trạng sử dụng, giúp việc xác minh chính xác và nhanh chóng hơn. Người dân không phải lên tỉnh để xin công nhận hay chuyển mục đích sử dụng thửa đất nhỏ lẻ. Sự lo ngại về sai phạm ở cấp xã sẽ được giải quyết bằng Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia tập trung, minh bạch”, bà Vang nói, đồng thời cho biết chọn phương án 2.

Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai Trường Trung Tuyến phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Cũng chọn phương án 2, nhưng đại biểu Trường Trung Tuyến (Gia Lai) nhấn mạnh phải bổ sung điều kiện bảo đảm thực hiện cho cấp xã. Theo đại biểu, thẩm quyền được quy định ngay trong Luật sẽ rõ ràng, minh bạch, ổn định hơn; người dân biết chính xác cơ quan nào giải quyết công việc của mình. Cấp xã là cấp gần dân nhất, trực tiếp nắm hiện trạng đất, nguồn gốc sử dụng đất, lịch sử biến động và các quan hệ trong cộng đồng dân cư. Việc giao thẩm quyền phù hợp sẽ rút ngắn quy trình và thời gian giải quyết thủ tục.
Song, điều khiến đại biểu Tuyến băn khoăn là không thể chỉ chuyển thẩm quyền mà không chuyển đồng thời các điều kiện để thực hiện thẩm quyền. Thực tế nhân lực và điều kiện kỹ thuật của một số UBND cấp xã chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi dữ liệu đất đai quốc gia mới đồng bộ gần 59% tổng số thửa đất. Vì vậy việc phân cấp phải gắn với điều kiện về nhân lực, tài chính, dữ liệu và cơ chế kiểm tra, giám sát.
Do đó, đại biểu đề nghị Điều 18 bổ sung một nguyên tắc ngay trong Luật theo hướng: “Việc phân định, phân cấp thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai phải gắn với bảo đảm nguồn nhân lực, cơ sở dữ liệu đất đai, hạ tầng kỹ thuật, kinh phí và các điều kiện cần thiết để thực hiện; cơ quan cấp trên có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và hỗ trợ chuyên môn đối với cấp xã”.
Đối với xã miền núi, địa bàn rộng, nhiều hồ sơ lịch sử phức tạp, cần có cơ chế bố trí nhân lực theo khối lượng và mức độ phức tạp của công việc, không nên phân bổ bình quân theo đầu mối hành chính.
Ngoài ra, cần có cơ chế mạnh hơn để xử lý tồn đọng lịch sử trong cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây là vấn đề người dân phản ánh nhiều nhất ở cơ sở. Ông nêu thực tiễn khu vực phía Tây Gia Lai cho thấy đang chuyển từ giai đoạn giải quyết những hồ sơ thông thường sang xử lý những hồ sơ khó, tồn đọng qua nhiều thời kỳ. Đó là đất khai hoang; đất sử dụng ổn định nhưng không có giấy tờ; đất nhận khoán; đất có nguồn gốc nông, lâm trường; giao đất không đúng thẩm quyền; chuyển nhượng bằng giấy viết tay; hồ sơ địa chính không thống nhất với hiện trạng. Chính những yếu tố này khiến việc xác minh nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, đo đạc, chỉnh lý bản đồ kéo dài.
Thống nhất với quan điểm của Ủy ban Kinh tế và Tài chính là việc tháo gỡ các tồn tại lịch sử phải bảo đảm giải quyết được quyền lợi chính đáng của người dân nhưng không hợp pháp hóa sai phạm, tuy nhiên, ông Tuyến nhận định, nếu Luật chỉ quy định nguyên tắc chung rồi giao xuống địa phương xác minh từng hồ sơ thì điểm nghẽn này sẽ tiếp tục tồn tại.
Ông đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung vào nhóm quy định về đăng ký đất đai, công nhận quyền sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận cơ chế phân loại hồ sơ tồn đọng lịch sử thành các nhóm pháp lý cụ thể; quy định rõ căn cứ xác nhận quá trình sử dụng đất trong trường hợp hồ sơ địa chính bị thất lạc hoặc không đầy đủ; giá trị pháp lý của ý kiến cộng đồng dân cư, dữ liệu bản đồ, hồ sơ quản lý qua các thời kỳ và các chứng cứ hợp pháp khác.
Đặc biệt, Điều 105 về giải quyết hồ sơ địa chính, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận khi Luật có hiệu lực cần tiếp tục rà soát để có cơ chế chuyển tiếp đủ rõ đối với hồ sơ tồn đọng; làm rõ hơn trách nhiệm, thời hạn bàn giao và cơ chế xử lý sau bàn giao, tránh tình trạng đất đã có chủ trương giao về địa phương nhưng người dân vẫn phải chờ nhiều năm mới hoàn thành thủ tục.
“Việc gì cấp xã làm tốt hơn, gần dân hơn thì mạnh dạn giao cho cấp xã; nhưng giao nhiệm vụ phải đồng thời giao công cụ, dữ liệu, nhân lực và điều kiện thực hiện; tháo gỡ các tồn tại lịch sử nhưng tuyệt đối không hợp thức hóa sai phạm”, đại biểu Gia Lai nói.
Không để việc giảm chi phí đầu vào làm ảnh hưởng không hợp lý đến mức bồi thường của người dân

Đoàn đại biểu Quốc hội TP Đồng Nai và tỉnh Thái Nguyên thảo luận ở tổ, chiều 19/8. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Đề nghị làm rõ hơn chính sách bồi thường và cách xác định giá đất, đại biểu Tạ Thị Yên (Điện Biên) đồng tình với hướng xác định giá đất dựa trên dữ liệu, phương pháp khoa học, công khai, minh bạch; Trung ương quy định nguyên tắc, phương pháp và kiểm tra, giám sát, địa phương quyết định giá. Tuy nhiên, Điều 76 hiện quy định bảng giá đất và hệ số điều chỉnh được dùng vừa để tính các khoản thu ngân sách, vừa để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Theo đại biểu, hai việc này có mục tiêu không hoàn toàn giống nhau. Một bên là xác định nghĩa vụ tài chính. Một bên là bảo đảm quyền lợi, ổn định đời sống của người bị thu hồi đất. Vì vậy, khi xây dựng bảng giá và hệ số điều chỉnh phải tính đủ cả hai yêu cầu, không để việc giảm chi phí đầu vào làm ảnh hưởng không hợp lý đến mức bồi thường của người dân.
Bà đề nghị Điều 76 quy định rõ hơn khi nào phải rà soát, điều chỉnh bảng giá đất và hệ số điều chỉnh; dữ liệu nào được sử dụng, dữ liệu bất thường được kiểm tra và loại bỏ ra sao; các căn cứ chính phải được công khai. Khi có điều chỉnh lớn thì cơ quan quyết định cần giải thích rõ lý do.
“Nhiều khi người dân băn khoăn không chỉ vì mức giá cao hay thấp, mà vì chưa rõ cơ quan nhà nước dựa vào căn cứ nào để xác định mức giá đó”, bà Yên đánh giá.
Đại biểu Bùi Hoài Sơn (Hà Nội) đề nghị trong định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai cần nhìn nhận đầy đủ hơn đất đai không chỉ là nguồn lực kinh tế mà còn là không gian của văn hóa, của ký ức cộng đồng và của chất lượng sống. Cần luật hóa nguyên tắc quy hoạch quỹ đất tối thiểu cho thiết chế văn hóa, thể thao theo quy mô dân số, nhất là ở đô thị, khu dân cư mới, khu tái định cư, khu nhà ở xã hội và khu công nghiệp.
Đại biểu cũng đề nghị bổ sung nguyên tắc: đất đã được quy hoạch cho công viên, sân chơi, thiết chế văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng nếu chuyển sang mục đích khác thì phải bố trí quỹ đất thay thế có diện tích, vị trí và khả năng tiếp cận tương đương hoặc tốt hơn.

