Tháo 'nút thắt' thể chế, tạo đà cho doanh nghiệp chuyển đổi xanh

Chuyển đổi xanh không còn là câu chuyện riêng của môi trường hay công nghệ, mà ngày càng tác động trực tiếp đến đầu tư, tín dụng, sản xuất, chuỗi cung ứng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, hoàn thiện thể chế được xem là một trong những điều kiện then chốt để kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn chuyển từ chủ trương thành những hoạt động đầu tư và kinh doanh cụ thể.

Tại Hội thảo khoa học “Hoàn thiện thể chế để thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” do Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tổ chức ngày 10/9/2026, các chuyên gia cho rằng, Việt Nam đã hình thành nền tảng pháp lý tương đối rộng cho phát triển xanh. Vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao để hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ hơn, giảm chi phí tuân thủ và tạo được động lực thị trường đủ mạnh để doanh nghiệp lựa chọn mô hình xanh, tuần hoàn.

Không chỉ thiếu quy định, mà thiếu sự kết nối

Theo PGS.TS Ngô Trí Long, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn trước đây thường được nhìn dưới góc độ tài nguyên, môi trường và công nghệ. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển, lĩnh vực này đã tác động ngày càng sâu rộng đến đầu tư, tín dụng, sản xuất nguyên liệu, chuỗi cung ứng xuất nhập khẩu và hành vi tiêu dùng. Vì vậy, đây không còn đơn thuần là câu chuyện công nghệ hay môi trường, mà ngày càng trở thành bài toán về thể chế và pháp luật.

“Muốn kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn thực sự trở thành động lực phát triển thì pháp luật phải tạo được một hành lang rõ ràng, đồng bộ, khả thi để các hoạt động xanh có thể đi vào cuộc sống”, PGS.TS Ngô Trí Long nhấn mạnh.

Toàn cảnh Hội thảo khoa học “Hoàn thiện thể chế để thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”.

Toàn cảnh Hội thảo khoa học “Hoàn thiện thể chế để thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”.

Theo ông, Việt Nam không còn thiếu chủ trương, chính sách về phát triển xanh. Luật Bảo vệ môi trường, Chiến lược tăng trưởng xanh, các đề án và kế hoạch hành động về kinh tế tuần hoàn, cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), phân loại xanh, tín dụng xanh và thị trường carbon đã từng bước được hình thành. Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng khi Việt Nam đang đi từ giai đoạn xây dựng khuôn khổ sang vận hành các quan hệ kinh tế xanh trên thực tế.

Trong bối cảnh đó, câu hỏi quan trọng không còn là có cần phát triển kinh tế xanh hay không, mà là hệ thống pháp luật đã đủ thông suốt để doanh nghiệp đầu tư xanh, sản xuất xanh, tái chế, huy động vốn và giao dịch hay chưa.

Một trong những điểm nghẽn được PGS.TS Ngô Trí Long chỉ ra là pháp luật còn phân tán, thiếu sự kết nối giữa các lĩnh vực. Một dự án xanh không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật môi trường mà còn liên quan đến đầu tư, đất đai, xây dựng, năng lượng, tín dụng, thuế, tiêu chuẩn kỹ thuật và hợp đồng. Các quy định riêng lẻ có thể không mâu thuẫn, nhưng khi áp dụng đồng thời, doanh nghiệp vẫn có thể không tìm thấy một “đường đi” pháp lý thông suốt.

“Ví dụ rất đơn giản, chúng ta khuyến khích tái chế nhưng nếu một dòng vật liệu đã qua xử lý vẫn bị coi là chất thải, không được công nhận là nguyên liệu thứ cấp thì chuỗi tuần hoàn bị đứt ngay từ khâu pháp luật”, ông phân tích.

Một vấn đề khác là nguy cơ chuyển đổi xanh kéo theo thêm thủ tục và chi phí cho doanh nghiệp. Theo PGS.TS Ngô Trí Long, nếu doanh nghiệp đã chứng minh một dự án đáp ứng đầy đủ tiêu chí xanh thì không nên phải chứng minh lại cùng một nội dung với nhiều cơ quan khác nhau.

Do đó, cần hướng tới nguyên tắc “một tiêu chí, một bộ dữ liệu, nhiều mục đích sử dụng”. Dữ liệu đã có thì không yêu cầu cung cấp lại; một nội dung không nên bị kiểm tra nhiều lần. Những nội dung có thể quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm thì cần hạn chế tiền kiểm không cần thiết.

“Mục tiêu môi trường càng cao thì thủ tục hành chính càng phải gọn, chứ không thể đồng nghĩa với thêm hồ sơ, thêm giấy phép và thêm chi phí”, PGS.TS Ngô Trí Long nhấn mạnh.

Theo PGS.TS Ngô Trí Long, nếu doanh nghiệp đã chứng minh một dự án đáp ứng đầy đủ tiêu chí xanh thì không nên phải chứng minh lại cùng một nội dung với nhiều cơ quan khác nhau.

Theo PGS.TS Ngô Trí Long, nếu doanh nghiệp đã chứng minh một dự án đáp ứng đầy đủ tiêu chí xanh thì không nên phải chứng minh lại cùng một nội dung với nhiều cơ quan khác nhau.

Đáng chú ý, quá trình hình thành thị trường carbon cũng đang đặt ra những vấn đề pháp lý mới. Khi tín chỉ carbon và hạn ngạch phát thải có thể được đăng ký, chuyển nhượng, thanh toán và tạo ra giá trị kinh tế, hàng loạt câu hỏi về quyền sở hữu, chuyển nhượng, sử dụng làm tài sản bảo đảm, xử lý khi doanh nghiệp phá sản hay giải quyết tranh chấp sẽ phải được làm rõ.

Theo PGS.TS Ngô Trí Long, đây không còn chỉ là vấn đề của lĩnh vực môi trường mà đã liên quan trực tiếp đến pháp luật dân sự, kinh tế và thương mại. Vì vậy, Bộ Tư pháp có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu và hoàn thiện hành lang pháp lý cho những quan hệ kinh tế mới này.

Từ “quản lý xanh” sang kiến tạo thị trường xanh

Từ thực tế trên, PGS.TS Ngô Trí Long đề xuất Bộ Tư pháp nghiên cứu một chuyên đề rà soát pháp luật về môi trường, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn theo toàn bộ chuỗi hoạt động, thay vì chỉ rà soát riêng từng luật. Cùng với đó, cần xây dựng một “ma trận tích hợp pháp luật xanh” để nhận diện các điểm chồng chéo, thiếu thống nhất giữa pháp luật môi trường với đầu tư, đất đai, tiêu chuẩn, thuế và những lĩnh vực liên quan.

Đặc biệt, cần thực hiện “kiểm toán thủ tục hành chính” đối với chuyển đổi xanh. Theo đó, phải lượng hóa doanh nghiệp đang phải thực hiện bao nhiêu thủ tục, có thể cắt giảm bao nhiêu thủ tục, bao nhiêu dữ liệu có thể dùng chung và doanh nghiệp có thể tiết kiệm bao nhiêu thời gian, chi phí.

Đối với tín chỉ carbon và hạn ngạch phát thải, PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng, cần sớm nghiên cứu một cách hệ thống địa vị pháp lý của các công cụ này. Tuy nhiên, điều đó không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc xây dựng một đạo luật mới. Trước hết cần xác định rõ những nội dung pháp luật hiện hành đã điều chỉnh được, nội dung nào cần hướng dẫn và đâu là những khoảng trống thực sự cần sửa đổi.

“Kinh tế xanh không nhất thiết cần thêm rất nhiều luật xanh. Điều quan trọng hơn là cần một hệ thống pháp luật đủ thống nhất để hoạt động xanh có thể đầu tư được, có thể vay vốn được, giao dịch được và được pháp luật bảo vệ”, ông nhấn mạnh.

Cùng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Xuân Hưng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, pháp luật cần trở thành công cụ kiến tạo thị trường xanh, tuần hoàn. Theo ông, trước hết cần hoàn thiện thể chế ở những lĩnh vực nền tảng như đất đai, doanh nghiệp, đầu tư công, đồng thời bảo đảm tính nhất quán giữa các luật.

Bên cạnh đó, pháp luật phải tạo động lực cho thị trường thông qua thuế, tín dụng, tài chính xanh, mua sắm công, giá carbon và các cơ chế chia sẻ rủi ro, qua đó từng bước thay đổi tương quan chi phí giữa mô hình xanh, tuần hoàn với mô hình sản xuất tuyến tính truyền thống.

Một trụ cột quan trọng khác là tạo hành lang cho đổi mới sáng tạo, công nghệ số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình kinh doanh mới. Với kinh tế tuần hoàn, pháp luật cũng cần chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu ở khâu xử lý chất thải sang quản trị toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ thiết kế, sản xuất, phân phối, sử dụng, sửa chữa, tái sử dụng, tân trang, tái sản xuất đến tái chế và hình thành nguyên liệu thứ cấp.

Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Hưng, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất cần được phát triển theo hướng gắn với thiết kế sinh thái, khuyến khích sản phẩm bền hơn, dễ sửa chữa, tháo rời và thay thế. Đồng thời, cần phát triển các khu công nghiệp sinh thái, mô hình công nghiệp cộng sinh, trung tâm vật liệu thứ cấp và hành lang công nghiệp tuần hoàn liên vùng, bởi kinh tế tuần hoàn không thể chỉ được tổ chức trong phạm vi một doanh nghiệp.

Ông đề xuất xây dựng chương trình rà soát, đồng bộ hóa pháp luật xanh, tuần hoàn giai đoạn 2027-2030; xanh hóa pháp luật đầu tư công và mua sắm công; xây dựng hệ thống phân loại và tiêu chí xanh có khả năng liên thông với hệ thống tài chính; hoàn thiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất và thị trường nguyên liệu thứ cấp; hoàn thiện pháp luật về thị trường carbon và đo lường; xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình kinh doanh xanh mới và phát triển hạ tầng dữ liệu xanh, vật liệu quốc gia.

Điểm chung trong các đề xuất là chuyển trọng tâm từ việc bổ sung ngày càng nhiều quy định sang tích hợp, liên thông và tạo khả năng vận hành thực tế của hệ thống pháp luật. Khi một dự án đã được xác nhận là xanh, kết quả đó cần có khả năng được sử dụng trong tín dụng, trái phiếu, ưu đãi đầu tư và các chương trình hỗ trợ khác mà không buộc doanh nghiệp phải chứng minh lại nhiều lần.

PGS.TS Nguyễn Xuân Hưng cho rằng, Việt Nam đã hình thành nền tảng pháp lý khá rộng về kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Thách thức hiện nay không còn chủ yếu là thiếu quy định, mà là thiếu sự tích hợp giữa các quy định.

Trong khi đó, PGS.TS Ngô Trí Long nhấn mạnh vai trò của Bộ Tư pháp không phải là thay các bộ chuyên ngành quyết định sản xuất bao nhiêu năng lượng tái tạo, xử lý chất thải như thế nào hay phát triển lĩnh vực nào, mà là làm cho các quy định của nhiều lĩnh vực kết nối thành một con đường pháp lý rõ ràng, thông suốt cho người dân và doanh nghiệp.

“Khi làm được điều đó thì pháp luật sẽ không chỉ đi sau để quản lý, mà pháp luật sẽ đi trước một bước để mở đường, khơi thông nguồn lực và kiến tạo phát triển xanh”, PGS.TS Ngô Trí Long kết luận.

Suy cho cùng, mục tiêu của hoàn thiện thể chế xanh không chỉ là giúp doanh nghiệp “tuân thủ” thêm một lớp quy định. Quan trọng hơn, hệ thống pháp luật phải khiến lựa chọn xanh trở thành một lựa chọn kinh tế có tính cạnh tranh, có khả năng huy động vốn, mở rộng thị trường và tạo ra giá trị lâu dài. Đây cũng là điều kiện để kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn thực sự trở thành một động lực mới của tăng trưởng trong kỷ nguyên mới.

Đình Khương

Nguồn PetroTimes: https://petrotimes.vn/thao-nut-that-the-che-tao-da-cho-doanh-nghiep-chuyen-doi-xanh-745441.html