Thay đổi cách hỗ trợ để OCOP Huế đi 'đường dài'
Mang lại hiệu quả cao trong thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, song, chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tại Huế đang đối mặt với bài toán khó khăn khi tái đánh giá sau chu kỳ 36 tháng.

Theo ông Dương Ngọc Phước, quá trình triển khai Chương trình OCOP trên địa bàn thành phố Huế cho thấy sự chuyển biến tích cực cả về quy mô, chất lượng và cơ cấu ngành hàng. Từ giai đoạn khởi động ban đầu với số lượng sản phẩm hạn chế, đến nay chương trình đã hình thành được hệ sinh thái sản phẩm đa dạng, kết hợp hài hòa giữa giá trị truyền thống, yếu tố văn hóa Huế và xu hướng sản xuất, tiêu dùng hiện đại.
Theo số liệu từ Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố, đến ngày 30/7/2026, toàn thành phố có 117 sản phẩm OCOP; trong đó có 1 sản phẩm đạt 5 sao cấp quốc gia, 21 sản phẩm đạt 4 sao, 95 sản phẩm đạt 3 sao. Qua kiểm tra rà soát, thành phố có 53 sản phẩm đã hết thời hạn công nhận và đến 30/12/2026 sẽ có thêm 14 sản phẩm hết thời hạn công nhận.


Theo quy định của chương trình OCOP, chứng nhận sản phẩm OCOP có hiệu lực trong thời gian 36 tháng. Do vậy, các chủ thể không được sử dụng nhãn hiệu chứng nhận sản phẩm OCOP Việt Nam (logo có gắn sao) để in, dán trên bao bì, nhãn mác, tờ rơi các sản phẩm khi lưu thông, tiêu thụ trên thị trường kể từ ngày hết hiệu lực.

Tôi cho rằng, một phần là do năng lực chủ thể hạn chế, bao bì nhãn mác chưa đáp ứng hoặc sản lượng cung ứng không ổn định khiến tiềm năng về thị trường chưa được khai thác.
Bên cạnh đó, giai đoạn đầu, chủ thể hào hứng tham gia vì được hỗ trợ một phần chi phí tư vấn, kiểm nghiệm sản phẩm, hoàn thiện bao bì, tem nhãn, website và tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại. Thế nhưng sau 3 năm, khi phải tự bỏ 100% chi phí để kiểm nghiệm lại, hoàn thiện hồ sơ, họ phải tính toán lại ngân sách, đánh giá hiệu quả trước khi quyết định gia hạn.
Ngoài ra, công tác truyền thông, quảng bá và nhận diện thương hiệu của sản phẩm OCOP vẫn chưa được thực hiện tốt. TP. Huế cũng chưa có nguồn kinh phí đầu tư quảng bá bài bản như các địa phương: Quảng Ninh, TP. Hà Nội, TP. Đà Nẵng hay mô hình OTOP của Thái Lan (nơi có các không gian quảng bá OCOP cố định tại sân bay, ga tàu). Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng chưa hiểu hết giá trị của sản phẩm OCOP để ưu tiên lựa chọn. Chủ thể vì thế sẽ nản, không còn mặn mà để thực hiện đánh giá, chứng nhận lại sản phẩm.
Một thực trạng nữa khiến các chủ thể OCOP không thực hiện thủ tục gia hạn chứng nhận một phần do năng lực của họ trong việc thực hiện các hồ sơ liên quan. Hiện nay, nhiều chủ thể còn phụ thuộc vào đơn vị tư vấn, nhất là các chủ thể lớn tuổi, không thể tự làm hồ sơ phức tạp nên phải thuê tư vấn. Khi đơn vị tư vấn bàn giao hồ sơ, chủ thể cũng không tự duy trì được các điều kiện bắt buộc như: An toàn vệ sinh thực phẩm, truy xuất nguồn gốc QR code, quản trị website.

Nhìn vào kệ hàng của các siêu thị lớn tại Huế, chúng ta sẽ thấy một thực tế là các mặt hàng thế mạnh, như: Mắm ruốc, nước mắm, đặc sản khô phần lớn lại đến từ các tỉnh, thành khác. Sản phẩm OCOP Huế xuất hiện rất thưa thớt và chủ yếu tiêu thụ tại địa phương, chưa tạo thành "dòng chảy" thương mại liên tỉnh.
Nguyên nhân đầu tiên xuất phát từ hạn chế nội tại của chủ thể OCOP. Đa số chủ thể OCOP trên địa bàn có nhà xưởng nhỏ lẻ, công nghệ chế biến thô sơ, sản lượng không ổn định nên không đáp ứng được đơn hàng lớn hay hợp đồng dài hạn của siêu thị. Dù HĐND thành phố đã ban hành nghị quyết về cơ chế hỗ trợ tối đa 50% kinh phí đầu tư đổi mới máy móc, nhưng nhiều chủ thể không có nguồn vốn đối ứng 50% còn lại, cũng không tiếp cận được nguồn vốn vay ưu đãi vì thiếu tài sản thế chấp.

Để thúc đẩy phát triển sản phẩm OCOP, chính sách hỗ trợ của Nhà nước rất quan trọng. Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ cần có sự thay đổi hướng vào trọng tâm để phát huy nội lực của chủ thể. Sản phẩm OCOP Huế có thể tốt nhưng chưa chạm được đến người tiêu dùng. Do đó, cần có chính sách hỗ trợ để chủ thể nâng cấp bao bì, nhãn mác và kể được câu chuyện sản phẩm. Bên cạnh đó, việc hỗ trợ một phần kinh phí để chủ thể đầu tư máy móc, thiết bị, xúc tiến thương mại thực chiến sẽ giúp sản phẩm OCOP có chỗ đứng trên thị trường và có đầu tư tốt hơn.

Chúng ta cần thay đổi toàn diện từ khâu lựa chọn đến hỗ trợ. Việc lựa chọn sản phẩm hỗ trợ ngay từ địa phương cần có sự tính toán lại. Khi lựa chọn sản phẩm cần dựa trên năng lực và nguyện vọng của chủ thể. Nên ưu tiên hỗ trợ cho chủ thể có nhu cầu thực sự, đặc biệt là lực lượng trẻ khởi nghiệp, có tư tưởng đổi mới, năng động và khả năng làm chủ công nghệ. Sản phẩm tận dụng tối đa ý tưởng, nhân công và vùng nguyên liệu đặc hữu tại chỗ. Sản phẩm đã qua sơ chế, chế biến, có tiềm năng tiêu thụ rộng rãi, giải quyết tốt khâu bảo quản và có khả năng vận chuyển đường xa.
Về công tác hỗ trợ, thay vì mở các lớp tập huấn chuyển đổi số, địa phương nên thành lập các tổ công nghệ chuyên trách, có thể giao cho lực lượng thanh niên có năng lực thực hiện. Lực lượng này sẽ hỗ trợ trực tiếp khâu truyền thông từ chụp ảnh, quay clip, viết câu chuyện sản phẩm, đưa hàng lên sàn thương mại điện tử và livestream bán hàng cho các chủ thể. Nhà nước cần tập trung ngân sách hỗ trợ sâu vào 4 khâu: Đăng ký, quản lý chất lượng, thiết kế nhãn mác bao bì và xúc tiến thương mại thực chiến.
Với 67 sản phẩm hết hạn và sắp hết hạn trong năm nay, thành phố cần có cơ chế số hóa hồ sơ thẩm định lại, đơn giản hóa thủ tục đánh giá lại đối với các sản phẩm; nghiên cứu trích một phần ngân sách địa phương hỗ trợ chi phí kiểm nghiệm lại để đồng hành cùng chủ thể.
Theo tôi, để chương trình OCOP đi đường dài, cần chuyển trọng tâm từ hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ sang nâng cao năng lực thị trường cho sản phẩm OCOP. Khi chủ thể bán được hàng, mở rộng được thị trường và có dòng tiền tái đầu tư, họ sẽ có động lực duy trì và nâng hạng sản phẩm.

Xin cảm ơn ông!

