Thi ca trước áp lực công nghệ số
Công nghệ số mở ra cơ hội lan tỏa nhanh chưa từng có, nhưng cũng đặt thi ca trước những thách thức về chất lượng, công chúng và sinh kế sáng tác. Từ góc nhìn các nhà thơ và nhà nghiên cứu tại TP Hồ Chí Minh, câu chuyện không chỉ là thích ứng mà là tìm lại vị thế của thơ trong đô thị hiện đại.
Đô thị và những biến chuyển của ngôn ngữ thi ca
Nếu thơ Việt từng in đậm bóng dáng đồng quê thì tại vùng đất Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn, thi ca sớm khoác lên mình diện mạo thành thị. Những con đường dày đặc xe cộ, cao ốc, chung cư, nhịp sống dịch chuyển liên tục… không chỉ là phông nền mà trở thành chất liệu và cả “nhân vật” trong thơ.
Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn cho rằng, nền tảng sáng tạo của không gian Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn chính là mạch nguồn nuôi dưỡng sinh khí văn hóa cho thành phố hôm nay. Theo nhà thơ Thiếu Nhơn, nhiều thế hệ nhà thơ đã bồi đắp diện mạo thơ đô thị, hình thành một trường thẩm mỹ riêng, bổ sung sắc diện thành thị cho thi đàn đương đại.

Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh chia sẻ nhiều ý kiến về dòng chảy thi ca TP Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, nhà thơ Lê Thiếu Nhơn cũng thẳng thắn chỉ ra nghịch lý: Sinh hoạt thi ca rất sôi nổi với hàng trăm tập thơ xuất bản mỗi năm, các câu lạc bộ hoạt động rộng khắp, nhưng không gian báo chí văn chương ngày càng thu hẹp, phê bình chuyên sâu còn thiếu, diễn đàn xứng tầm với một đô thị hơn 14 triệu dân vẫn chưa rõ nét.
Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn đặt vấn đề về cơ chế hỗ trợ sáng tác, dịch thuật, quảng bá thơ Việt ra thế giới, để người viết không rơi vào cảm giác “bơ vơ” giữa thị trường văn hóa nhiều biến động.
Ở một hướng tiếp cận khác, nhà thơ Trần Đức Tín hình dung hành trình thơ phương Nam đầu thế kỷ XXI như những đợt sóng nối nhau. Sóng sau không xóa sóng trước mà làm dày thêm độ sâu của biển. Nhà thơ Đức Tín nhận diện các lớp vận động: Từ ký ức không gian sống, tự vấn bản thể, thể nghiệm ngôn ngữ trong bối cảnh đô thị hóa đến thế hệ trưởng thành cùng không gian số.
“Đô thị không chỉ là đề tài mà còn tạo áp lực lên ngôn ngữ”, nhà thơ Trần Đức Tín nhấn mạnh. Theo nhà thơ Đức Tín, nhịp sống gấp gáp buộc câu thơ phải cô đọng, phân mảnh, phi tuyến tính. Ngôn ngữ trở thành một cuộc phiêu lưu, cắt ghép, đảo cấu trúc, tạo khoảng trống để diễn đạt nhịp sống nén chặt của thành phố.
Đáng chú ý, sự xuất hiện của mạng xã hội càng làm thay đổi diện mạo thi ca. Một thế hệ sáng tác mới công bố tác phẩm gần như đồng thời với quá trình viết, nhận phản hồi tức thì. Thơ có thể lan tỏa chỉ sau một cú nhấp chuột. Nhưng theo nhà thơ Trần Đức Tín, thách thức lớn nhất là vượt qua tính nhất thời của môi trường số, để bài thơ có đời sống dài hơn một lượt chia sẻ.
Mặt khác, không gian “đô thị thi ca” hôm nay không chỉ gói gọn trong lõi trung tâm mà mở rộng đến các vùng hội tụ như Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu. Nhà thơ Vũ Thanh Hoa nhìn lại hành trình thơ Bà Rịa - Vũng Tàu như một phần của bản giao hưởng chung.
Theo nhà thơ Thanh Hoa, thế hệ đi qua chiến tranh như Xuân Sách, Lê Huy Mậu, Hoàng Quý, Tùng Bách, Hoàng Trung Thủy… đã đặt nền móng cho văn nghệ địa phương với những tác phẩm ngợi ca hy sinh và ghi lại gian khó hậu chiến. Lớp kế tiếp, trưởng thành trong thời đô thị hóa, mở rộng biên độ biểu đạt, đi sâu vào thân phận con người và ý thức cái tôi hiện đại.
Nhà thơ Thanh Hoa cũng nhắc đến đội ngũ nhà thơ trong ngành dầu khí - môi trường lao động đặc thù giao thoa văn hóa Việt - Nga, tạo nên một sắc thái riêng cho văn chương vùng biển. Tuy nhiên, nhà thơ Thanh Hoa thẳng thắn nhìn nhận khoảng hụt hẫng của lớp trẻ dấn thân bền bỉ với thơ vẫn còn hiện diện; trong bối cảnh hội tụ cùng đô thị lớn, đây vừa là cơ hội vừa là thách thức để văn chương biển tìm một cuộc cách mạng trong tư duy nghệ thuật.

Các tác phẩm thơ được trưng bày trong khuôn khổ Ngày thơ Việt Nam lần thứ 24 năm 2026, do Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức.
Ở góc nhìn khác, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh gọi thơ TP Hồ Chí Minh là “một dòng chảy nhiều ưu tư”. Theo nhà thơ Vũ Quỳnh, thành phố hội tụ con người muôn phương, tạo nên dòng sông thi ca xanh mát suốt hơn bốn thập niên đổi mới. Từ các thế hệ đi qua chiến tranh như Chế Lan Viên, Thu Bồn, Chim Trắng đến lớp trưởng thành từ phong trào học sinh, sinh viên trước 1975, rồi những người sinh ra và lớn lên trong hòa bình, tất cả đã tạo nên diện mạo phong phú.
Tuy vậy, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh cho rằng, dù số lượng đông đảo và tốc độ phát triển nhanh, tầm vóc cao của thơ hiện nay còn ít. “Thơ chưa chiếm lĩnh được tình cảm bạn đọc như giai đoạn trước năm 2000”, nhà thơ Vũ Quỳnh nhận xét, đồng thời chỉ ra một thực tế: Nhiều người viết chưa vượt qua được cái tôi cá nhân, khiến sợi dây gắn kết với cộng đồng trở nên mong manh. Công chúng không quay lưng với thi ca; trái lại, họ đặt ra yêu cầu khắt khe hơn, buộc người viết phải đối thoại sâu sắc hơn với đời sống.
Giữ mạch nguồn trong kỷ nguyên số
Ở góc độ nghiên cứu, TS Hà Thanh Vân, Phó giám đốc Trung tâm Xúc tiến văn hóa nghệ thuật Việt Nam (COPAC) cho rằng, trong một đến hai thập niên gần đây, đô thị trong thơ không còn là bối cảnh đơn thuần mà trở thành thực thể biểu tượng. Thành phố vừa hào sảng, bao dung, vừa chất chứa áp lực sinh tồn. Nhiều tác giả rời bỏ lối ước lệ để trực diện với đời sống; cấu trúc tự do, thơ văn xuôi, lối viết phi tuyến được lựa chọn nhằm tái hiện nhịp sống đứt gãy.

TS Hà Thanh Vân, Phó giám đốc Trung tâm Xúc tiến văn hóa nghệ thuật Việt Nam (COPAC) chia sẻ tại tọa đàm "Đô thị thi ca" do Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức.
Ngôn ngữ đời thường, thuật ngữ công nghệ, chất liệu văn hóa đại chúng len vào câu chữ. Tư duy hình ảnh mang đậm tính thị giác, điện ảnh, với những “cú cắt cảnh” nhanh và hình ảnh chồng lớp. Theo bà, môi trường số mở ra khả năng cho thơ đa phương tiện, một bài thơ có thể kết hợp âm nhạc, đồ họa, trình diễn, thậm chí tương tác trực tiếp với khán giả. Khi đó, thơ không chỉ để đọc mà còn để trải nghiệm.
Trong bối cảnh UNESCO công nhận TP Hồ Chí Minh là thành phố sáng tạo trong lĩnh vực điện ảnh, nhà thơ Phan Tùng Sơn đặt vấn đề cần nhìn “đô thị thi ca” ở tầm khát vọng phát triển. Theo nhà thơ Tùng Sơn, khi điện ảnh trở thành mũi nhọn công nghiệp văn hóa, thi ca cũng phải xác lập vị thế và mục tiêu rõ ràng trong không gian sáng tạo chung.
Nhà thơ Phan Tùng Sơn đề xuất tiếp cận ở hai phương diện: Định tính - môi trường sáng tạo, giá trị cảm xúc và định lượng - khả năng tạo sinh kế, xây dựng thị trường văn hóa. “Nếu đã là nghề thì phải sống được bằng nghề”, nhà thơ Tùng Sơn nói, đồng thời nhấn mạnh một đô thị tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ nhưng thiếu đời sống tinh thần sẽ khó phát triển bền vững. Theo nhà thơ Phan Tùng Sơn, cần củng cố lực lượng sáng tác, xây dựng cơ chế hỗ trợ, quảng bá trên nền tảng số, để Hội Nhà văn và các thiết chế văn hóa thực sự trở thành “đường băng” cho người viết trẻ.
Từ nhiều góc nhìn, có thể thấy thi ca TP Hồ Chí Minh và vùng hội tụ đang ở thời điểm bản lề. Giữa ký ức và hiện đại, giữa biển và cao ốc, giữa trang giấy và không gian số, thơ buộc phải tự làm mới để không bị lạc nhịp. Nhưng như nhận định của nhà thơ Trần Đức Tín, sự vận động ấy giống một dòng sông luôn biến chuyển mà vẫn giữ mạch nguồn riêng.
Có thể thơ không ồn ào như các loại hình giải trí đại chúng. Song trong nhịp sống đô thị đang tăng tốc từng ngày, những câu thơ lặng lẽ vẫn là khoảng lùi cần thiết, nơi con người tìm lại chiều sâu nội tâm và sự cân bằng tinh thần. Khi người viết còn đối thoại với đời sống và khi đô thị biết tạo điều kiện cho sáng tạo, “biển thơ” ấy vẫn còn sóng.












