Thổ cẩm, tác phẩm nghệ thuật của người Mông
Vào những ngày tháng 10 ở Lào Cai, khi tiết trời vùng cao bắt đầu se lạnh, từ phố phường đến thôn bản đều nổi bật những bộ trang phục “muôn hồng nghìn tía” của phụ nữ Mông. Những chiếc áo, váy xòe, khăn đội đầu bằng thổ cẩm rực rỡ sắc màu, với những đường thêu tinh xảo, kết hợp cùng xà tích, vòng bạc lấp lánh, làm bừng sáng những bản làng vùng cao.

Phụ nữ Mông xe sợi lanh trong lúc rảnh rỗi. Ảnh: HNT
Cây lanh trong đời sống tinh thần của người Mông
Phụ nữ Mông dệt thổ cẩm từ lanh, loài cây mang ý nghĩa biểu tượng trong đời sống tinh thần của người Mông, bởi quan niệm “ở đâu có cây lanh, ở đó có người Mông”. Việc dệt vải lanh thể hiện sự khéo léo, chăm chỉ và từng là một trong những tiêu chí đánh giá tài năng, phẩm hạnh của phụ nữ Mông xưa. Vải lanh là lễ vật không thể thiếu trong ngày cưới. Phụ nữ Mông đi lấy chồng tự dệt, may váy áo mang theo về nhà chồng, đồng thời biếu bố mẹ và họ hàng bên chồng. Vải lanh còn là một trong những vật thiêng được sử dụng trong đám tang, lễ cúng, giỗ... Người Mông quan niệm, sợi lanh sẽ dẫn đường cho người đã khuất trở về với tổ tiên và đầu thai chuyển kiếp.
Chị Thào Thị Sung, chủ cơ sở sản xuất thổ cẩm với 35 người dân địa phương tham gia, ở thôn Can Ngài, xã Tả Phìn, cho biết, để dệt nên tấm thổ cẩm mềm mịn, nhiều màu sắc từ những sợi lanh thô cứng là cả một quá trình công phu, đòi hỏi sự tỉ mỉ, nhẫn nại. Cây lanh được trồng sau Tết, vào khoảng tháng 2 âm lịch. Sau 2 tháng, khi lanh vừa độ chín, các chị cắt về, phơi nắng, phơi sương, rồi tước vỏ. Sợi lanh được cho vào cối giã suốt 4-5 ngày cho đến khi mềm, sau đó nối lại với nhau. Người phụ nữ khéo léo phải biết nối sao cho các mối nối không bị lộ, sợi đều nhau để khi dệt thành vải, các thớ sợi đồng đều, giúp mặt vải phẳng và mịn. Phụ nữ Mông tranh thủ nối sợi bất cứ lúc nào rảnh rỗi. Trên những con đường, lối bản ở Lào Cai, không khó để bắt gặp hình ảnh phụ nữ Mông lưng mang gùi, địu con, đôi tay thoăn thoắt nối sợi lanh. Họ vừa đi vừa nối sợi, vừa chuyện trò vừa làm việc. Những động tác đã trở nên thuần thục qua năm tháng, tạo nên nét đẹp riêng từ đôi tay chai sần vì lao động. Hình ảnh ấy hiện diện ở nhiều góc đường, nẻo phố, từ nhà thờ đá Sa Pa cổ kính, bản Cát Cát mộc mạc đến những phiên chợ vùng cao.
Sau khi nối lanh là công đoạn xe sợi. Sợi lanh được mắc vào khung quay thành cuộn tròn, rồi mang đi giặt. Tiếp đến, sợi được luộc cùng tro của cây gỗ trai để tẩy trắng, cho thêm sáp ong vào đun trong một ngày để tạo độ bền. Khi lanh mềm và trắng, sợi được ép hết nước, phơi trên giàn, rồi guồng chia sợi. Lúc này, các sợi lanh xoắn kết lại thành những sợi dài và dai, sau đó được đưa vào khung dệt thành tấm vải. Tấm vải sau khi dệt tiếp tục được phơi trên phiến đá, dùng đá cuội đập cho mềm, bóng, mịn. Sau đó mới đến công đoạn vẽ sáp, tạo hoa văn và nhuộm màu.

Phụ nữ Mông trong trang phục truyền thống. Ảnh: HNT
Nghệ thuật vẽ sáp ong độc đáo của người Mông
Vẽ sáp ong là một kỹ thuật đặc biệt của người Mông, đòi hỏi tay nghề, kinh nghiệm và sự sáng tạo của những người có nhiều năm gắn bó với nghề. Bà Vàng Thị Sú, nghệ nhân lâu năm của cơ sở thổ cẩm, dùng bút vẽ có cán bằng gỗ, ngòi bằng đồng nhúng vào sáp nóng để vẽ lên vải. Đôi tay gân guốc của bà như lướt trên tấm vải, nét sáp vừa được tạo ra đã nhanh chóng khô lại, in dấu trên từng thớ vải. Bà Sú cho biết, lớp sáp ong có tác dụng ngăn màu chàm thấm vào vải trong công đoạn nhuộm.
Sau khi vẽ sáp ong, vải lanh được ngâm trong nước cho ngấm đều, rồi nhuộm chàm. Đây là công đoạn đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Lá cây chàm già được rửa sạch, ngâm trong nước từ 3 ngày đến một tuần rồi vò nát, cho vôi bột vào khuấy kỹ, để lắng và gạn hết nước; phần bột sánh dưới đáy là cao chàm. Vải lanh được nhuộm đi nhuộm lại ít nhất 12 lần để giữ màu bền hơn theo thời gian. Quá trình nhuộm chàm có thể kéo dài hàng tháng trong điều kiện thời tiết thuận lợi. Sau khi nhuộm, vải được giặt tẩy sáp, giặt đi giặt lại nhiều lần, rồi dùng đá lăn để tạo độ bóng, mịn, bền. Khi vải đã có màu sẫm, người thợ đem nhúng vào nước sôi để sáp ong chảy ra, để lộ những hoa văn màu xanh lơ. Lúc này, người phụ nữ có thể tiếp tục thêu thủ công theo những hoa văn đã được tạo trên vải.
Hoa văn trên thổ cẩm của người Mông gồm những dạng hình học như hình vuông, hình chữ nhật, hình thoi, cùng những họa tiết cách điệu hình hoa cỏ, lá cây, muông thú. Mỗi hoa văn mang một ý nghĩa riêng, phản ánh đời sống và tập quán của người Mông. Hoa văn hình tổ nhện gửi gắm ước muốn người mẹ che nắng, che mưa cho con, mong con lớn lên khỏe mạnh, có thể sống trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt như con nhện. Hoa văn hình cối đá xay ngô thể hiện sự cần cù lao động, mong ước gia đình được no ấm. Hoa văn cây dương xỉ mang ý nghĩa cầu mong vợ chồng hạnh phúc bền lâu, vượt qua mọi khó khăn. Hoa văn quả trám với 4 hình xoắn ốc tượng trưng cho tình đoàn kết trong gia đình, cộng đồng...
Người Mông còn thêu hình hoa bí trên cổ áo hoặc thắt lưng, hình khung dệt, hoa hồi, chim thú... Những hoa văn ấy được lưu giữ qua trí nhớ và được tạo nên bởi đôi tay tài hoa, khéo léo của những nghệ nhân như bà Sú. Chỉ với bốn màu chủ đạo là xanh, đỏ, trắng, vàng của chỉ tơ tằm cùng trí tưởng tượng phong phú của người phụ nữ, mỗi tấm thổ cẩm mang một sắc thái riêng. Bởi vậy, những tấm thổ cẩm trông có vẻ giống nhau nhưng thực tế đều là những sản phẩm độc bản, bởi mỗi tấm vải thể hiện cảm xúc và sự ngẫu hứng sáng tạo của người dệt ở từng thời điểm.
Chị Thào Thị Sung chia sẻ, hiện nay có nhiều loại vải chất lượng tốt, giá thành rẻ, người dân mua về may trang phục để sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày. Tuy nhiên, trong các dịp lễ, Tết, nghi thức cưới hỏi, tang ma và lễ hội truyền thống của dân tộc, người Mông vẫn sử dụng vải lanh.
Cùng với sự phát triển của du lịch, thổ cẩm được ứng dụng trong các mẫu trang phục cách điệu của nhiều nhà thiết kế, đồng thời được làm thành khăn choàng, ba lô, túi xách, thú nhồi bông, đồ trang trí, đồ lưu niệm... Những sản phẩm ấy theo chân du khách đi khắp mọi miền đất nước và được nhiều khách nước ngoài ưa chuộng. Thổ cẩm Mông vì thế vẫn hiện diện trong đời sống đương đại theo cách riêng.
Trong mỗi nếp nhà ở bản, các bé gái học theo bà, theo mẹ, quan sát, rồi làm quen với từng công đoạn. Khi lớn lên, các cô gái ấy lại ngồi vào khung dệt, miệt mài thoi đưa, gửi vào từng tấm vải sự khéo léo, óc thẩm mỹ và những giá trị văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Từ cây lanh, sợi chỉ và đôi bàn tay của người phụ nữ, những tấm thổ cẩm rực rỡ ra đời, vừa là trang phục, vừa là tác phẩm nghệ thuật mang dấu ấn văn hóa của người Mông.

