Thời đại nước Mỹ thịnh vượng nhờ vay mượn

Khi Reagan được bầu làm Tổng thống Mỹ, tổng nợ công và tư của Mỹ là 3,87 nghìn tỷ đôla Mỹ. Vào cuối những năm 1980, con số này đã trở thành 10 nghìn tỷ!

Tác giả: Song Hong Bing/Bách Việt Books-NXB Lao Động

Chiến tranh tiền tệ

Cuốn sách phân tích sức mạnh của tiền tệ có thể can thiệp vào các công việc chung của thế giới ra sao. Những trung tâm kinh tế như EU, Mỹ… đang đưa ra các chính sách gì để xử lý khủng hoảng và đảm bảo sự an toàn cho các nhà đầu tư. Mỗi tập đề cập đến một khía cạnh cho thấy cái nhìn toàn cảnh của tác giả về dòng chảy tài chính hiện đại.

Thời đại nước Mỹ thịnh vượng nhờ vay mượn

Khi Reagan được bầu làm Tổng thống Mỹ, tổng nợ công và tư của Mỹ là 3,87 nghìn tỷ đôla Mỹ. Vào cuối những năm 1980, con số này đã trở thành 10 nghìn tỷ!

Sự thịnh vượng nhờ vay mượn

Xét cho cùng thì sự thịnh vượng kinh tế trong thời đại Reagan có được là nhờ nước Mỹ đã tiến hành “thấu chi” ở ba khía cạnh: Vay mượn từ tương lai, vay mượn tiết kiệm nước ngoài và “đoạt” nguyên liệu thô giá rẻ từ các nước thuộc thế giới thứ ba.

Từ mùa thu năm 1979 đến mùa hè năm 1982, với sự cuồng nhiệt chẳng kém gì một tín đồ, Volcker đã giương cây gậy tiền tệ lên để đập tan kỳ vọng lạm phát, đồng thời cũng khiến cho nền kinh tế thực thể của Mỹ bị “chấn thương sọ não” tương đối nghiêm trọng.

Từ năm 1980 đến năm 1985, đồng đôla tăng giá kịch liệt lên mức 50%! Đây là cơn địa chấn tiền tệ kinh hoàng nhất xảy ra ở một cường quốc trong lịch sử kinh tế hiện đại! Kết quả là nền kinh tế công nghiệp của Mỹ bị tàn phá nặng nề.

Tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt lên 10,8%, ngành công nghiệp hóa chất nặng bị phá hủy, gần 1/3 số công nhân ngành thép bị sa thải, các nhà máy ôtô lần lượt đóng cửa, phần lớn dây chuyền sản xuất thiết bị ngừng hoạt động, ngành công nghiệp hóa dầu cắt giảm quy mô, vô số mỏ quặng bị bỏ hoang, ngay cả các sản phẩm nông nghiệp cũng mất khả năng cạnh tranh quốc tế.

Những người theo học thuyết cung ứng từng ngoa ngôn khoác lác rằng chỉ cần Chính phủ giảm thuế, giảm phúc lợi cho người lao động thì phép màu về năng suất công nghiệp sẽ tự động xảy ra. Vậy mà đã 5 năm trôi qua, người ta thậm chí còn không thấy bóng dáng của “phép màu” nào; ngày càng có nhiều xe Nhật chạy khắp các đường phố ở Mỹ, các thiết bị tiên tiến hơn của Đức được sử dụng ồ ạt trong các nhà máy, còn các kệ hàng trong siêu thị thì đầy ắp hàng tiêu dùng châu Á giá rẻ.

Cuối cùng, sự phục hồi của việc làm trong lĩnh vực công nghiệp vẫn phải phụ thuộc vào các đơn đặt hàng quân sự từ chương trình “Chiến tranh giữa các vì sao” của Reagan. Những kẻ theo học thuyết cung ứng từng tuyên bố “không đội trời chung” với sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế, kết quả là Mỹ vẫn phải dựa vào thâm hụt tài khóa khốc liệt nhất kể từ sau chiến tranh mới có thể lóp ngóp bò dậy và thoát khỏi vũng lầy suy thoái khốc liệt.

 Nước Mỹ đi qua nhiều giai đoạn khủng hoảng tiền tệ. Ảnh: LATimes.com.

Nước Mỹ đi qua nhiều giai đoạn khủng hoảng tiền tệ. Ảnh: LATimes.com.

Giai đoạn 1983-1988 là thời kỳ hoàng kim trong huyền thoại kinh tế của thời đại Reagan. Nhưng nếu xem xét kỹ lưỡng, mọi người sẽ thấy rằng sự thịnh vượng kinh tế của Reagan thực chất đều được “vay mượn” từ tương lai. Trong giai đoạn này, thâm hụt tài khóa của Mỹ đã lên tới hơn 200 tỷ đôla mỗi năm, chiếm hơn 5% GNP. Tỷ lệ tiết kiệm nội địa ròng ở Mỹ đã giảm từ 6,5% trong những năm 1970 xuống còn 2,5%.

Mức thâm hụt tài chính khổng lồ là thủ phạm nuốt chửng tiết kiệm trong nước. Tiết kiệm ròng của một quốc gia chính là “con thỏ của thợ săn”, nó là tiền đề tiêu dùng và đầu tư. Tiêu dùng có nghĩa là người thợ săn lấy một phần trong tổng số thỏ tích trữ của mình để mang ra trao đổi với người khác; đầu tư có nghĩa là khoản tích trữ khác mà người thợ săn dùng để chế tạo cung tên.

Kể từ khi Thế Chiến II kết thúc ở Mỹ, đầu tư ròng luôn chiếm 7% GNP. Đầu tư thành công sẽ giúp cho việc sản xuất hiệu quả hơn, vì vậy đầu tư sẽ cung cấp động lực sau này cho tăng trưởng kinh tế. Nhưng trong 8 năm cầm quyền của Reagan, tỷ lệ đầu tư ròng trong GNP của Mỹ giảm xuống chỉ còn 5%. Những kẻ theo học thuyết cung ứng từng ngạo mạn đảm bảo rằng các chính sách của họ sẽ giúp nâng cao tỷ lệ tiết kiệm và tăng đầu tư ròng của Mỹ, đây rõ ràng là khoác lác mà không hề biết ngượng.

Khi Reagan được bầu làm Tổng thống Mỹ, tổng nợ công và tư của Mỹ là 3,87 nghìn tỷ đôla Mỹ. Vào cuối những năm 1980, con số này đã trở thành 10 nghìn tỷ!

Do không đủ tiết kiệm trong nước nên để duy trì mức sống của xã hội, chính quyền Reagan không chỉ thấu chi mạnh tay (nghĩa là vay mượn từ tương lai), mà còn vay một lượng lớn tiền tiết kiệm từ nước ngoài, lên tới 14% tổng số tiền tiết kiệm của Mỹ!

Với điều kiện mở cửa thị trường trong nước, Mỹ yêu cầu Nhật Bản và Đức phải có thặng dư thương mại với Mỹ và cho Mỹ vay số tiền tiết kiệm do họ tạo ra thông qua việc mua các tài sản tài chính của Mỹ. Năm 1984, số lượng tài sản mang lại lợi nhuận cố định của Mỹ (chủ yếu là trái phiếu) được nước ngoài mua đã tăng gấp ba lần lên 37,4 tỷ đôla. Dòng vốn từ Nhật Bản chảy sang Mỹ lên tới quy mô đáng kinh ngạc là 50 tỷ đôla chỉ trong một năm!

Các học giả Mỹ còn nói đùa rằng cho tới những năm 80 của thế kỷ XX, nước Mỹ cuối cùng đã tìm thấy lợi thế so sánh của riêng mình, đó chính là xuất khẩu trái phiếu kho bạc Mỹ!

Song Hong Bing/Bách Việt Books-NXB Lao Động

Nguồn Znews: https://znews.vn/thoi-dai-nuoc-my-thinh-vuong-nho-vay-muon-post1636549.html