Thụy Điển bảo vệ tiền mặt giữa làn sóng số hóa: Bài học về khả năng chống chịu cho Việt Nam
Dù thanh toán số đã trở thành phương thức chủ đạo, Thụy Điển vẫn tìm cách duy trì tiền mặt để bảo đảm giao dịch thiết yếu khi mất điện, gián đoạn mạng hoặc xảy ra khủng hoảng. Kinh nghiệm này đặt ra yêu cầu đối với Việt Nam: đẩy mạnh chuyển đổi số theo Nghị quyết 57 nhưng phải xây dựng năng lực dự phòng, bảo vệ người dân trước rủi ro hệ thống.

Thanh toán sử dụng điện thoại, quét mã QR ngày càng phổ biến ở Việt Nam. Ảnh: Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc
Khi quốc gia số hóa cao phải bảo vệ tiền mặt
Thụy Điển đang cho thấy một cách tiếp cận đáng chú ý trong chuyển đổi số: phát triển thanh toán điện tử phải đi đôi với duy trì các phương thức dự phòng, trong đó có tiền mặt. Đây không phải sự đảo ngược xu hướng số hóa, mà là bước điều chỉnh nhằm tăng khả năng chống chịu của hệ thống thanh toán trước những tình huống bất thường như mất điện, gián đoạn viễn thông, tấn công mạng hoặc khủng hoảng an ninh.
Theo Báo cáo Thanh toán 2026 của Ngân hàng Trung ương Thụy Điển (Riksbank), công bố ngày 12/3, các phương thức thanh toán số tiếp tục phổ biến trong đời sống người dân. Có tới 91% số người được khảo sát cho biết đã sử dụng ứng dụng thanh toán Swish trong tháng trước đó, tăng so với mức 82% năm 2023. Khoảng 98% đã sử dụng ít nhất một phương thức thanh toán bằng thẻ vật lý hoặc thẻ tích hợp trên điện thoại di động.
Đáng chú ý, các hình thức thanh toán bằng thẻ chiếm khoảng 92% số lượt thanh toán trong lần mua hàng gần nhất tại cửa hàng thực tế. Trong khi đó, chỉ 5% số người được hỏi cho biết đã thanh toán bằng tiền mặt trong lần mua hàng gần nhất, giảm so với mức 10% năm 2023 và 40% cách đây 15 năm.
Chính trong bối cảnh tiền mặt ngày càng ít được sử dụng, cào ngày 18/3, Chính phủ Thụy Điển đã công bố đề xuất luật nhằm duy trì khả năng thanh toán bằng tiền mặt đối với một số hàng hóa và dịch vụ thiết yếu. Theo nội dung đề xuất, các cửa hàng thực phẩm và nhà thuốc, về nguyên tắc, phải chấp nhận tiền mặt tại những điểm bán hàng trực tiếp có quầy thu ngân do nhân viên phục vụ. Tuy nhiên, nghĩa vụ này có thể được miễn trừ trong một số trường hợp liên quan đến an toàn nhân viên, chi phí xử lý tiền mặt đe dọa khả năng duy trì hoạt động của cơ sở kinh doanh hoặc những lý do chính đáng khác.
Trước đó, trong thông cáo ngày 4/3, Riksbank khuyến nghị các hộ gia đình dự trữ khoảng 1.000 krona Thụy Điển (SEK) tiền mặt cho mỗi người trưởng thành, nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm hàng hóa thiết yếu trong khoảng một tuần. Đây là mức tham khảo, không phải nghĩa vụ pháp lý. Người dân được khuyến khích chuẩn bị tiền mặt với nhiều mệnh giá và sử dụng định kỳ để duy trì hoạt động của hệ thống lưu thông tiền mặt.
Điểm đáng chú ý là Riksbank không chỉ khuyến nghị dự trữ tiền mặt mà còn đề cao việc duy trì nhiều phương thức thanh toán khác nhau. Người dân được khuyến khích có thẻ thanh toán vật lý, ghi nhớ mã PIN và chuẩn bị các lựa chọn thay thế khi một phương thức không thể sử dụng. Theo cơ quan này, khả năng thực hiện thanh toán trong điều kiện khủng hoảng là một bộ phận quan trọng của năng lực phòng thủ toàn diện quốc gia.
Kinh nghiệm Thụy Điển cũng cho thấy tiền mặt chỉ thực sự phát huy vai trò dự phòng khi có hệ thống hỗ trợ tương ứng. Nếu ngân hàng, máy rút tiền tự động, đơn vị vận chuyển tiền và các cơ sở kinh doanh không duy trì khả năng cung ứng, lưu thông và chấp nhận tiền mặt, việc người dân dự trữ một khoản tiền nhất định sẽ chỉ giải quyết được một phần vấn đề. Theo Riksbank ngày 12/3, giảm tính dễ bị tổn thương và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ là hai yêu cầu quan trọng đối với thị trường thanh toán.
Như vậy, bài học từ Thụy Điển không phải là quay lại sử dụng tiền mặt thay cho thanh toán số, mà là tránh để toàn bộ hoạt động thanh toán thiết yếu phụ thuộc vào một phương thức hoặc một hệ thống công nghệ duy nhất.
Việt Nam tăng tốc số hóa và những rủi ro cần nhận diện
Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thanh toán số, nhưng tốc độ mở rộng nhanh cũng đặt ra yêu cầu xây dựng năng lực dự phòng tương xứng. Sự phổ biến của điện thoại thông minh, thương mại điện tử, ngân hàng số và thanh toán qua mã QR đang làm thay đổi mạnh mẽ thói quen giao dịch của người dân và doanh nghiệp.
Trong tham luận tại hội thảo “Kết nối thông minh - Kiến tạo hệ sinh thái số” tổ chức ngày 14/10 tại Hà Nội, ThS. Lê Văn Quang và ThS. Giang Thị Thu Huyền thuộc Học viện Ngân hàng nhận định dân số trẻ, tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh cao và sự phát triển của thương mại điện tử là những lợi thế đáng kể của Việt Nam. Nhóm tác giả dẫn số liệu quy mô thương mại điện tử năm 2025 đạt khoảng 31 tỷ USD, tăng 25,5%, tương đương 10% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng.
Theo tham luận, gần 89% người trưởng thành có tài khoản thanh toán, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt tương đương khoảng 28 lần GDP. Các nền tảng như VietQR và NAPAS góp phần mở rộng khả năng kết nối giữa ngân hàng, doanh nghiệp và người tiêu dùng, trong khi hợp tác thanh toán xuyên biên giới tạo thêm thuận lợi cho thương mại và du lịch.
Tuy nhiên, sự phát triển của thanh toán số cũng làm gia tăng mức độ phụ thuộc vào điện, viễn thông, trung tâm dữ liệu, hệ thống ngân hàng và các nhà cung cấp dịch vụ trung gian. Một sự cố tại một mắt xích quan trọng có thể ảnh hưởng đến nhiều hoạt động giao dịch cùng lúc. Khi thanh toán điện tử trở thành phương thức chủ yếu, rủi ro không chỉ nằm ở việc một ứng dụng ngừng hoạt động mà còn ở khả năng người dân không thể mua những hàng hóa thiết yếu dù vẫn có đủ tiền trong tài khoản.
Tham luận của các chuyên gia Học viện Ngân hàng cũng chỉ ra sự không đồng đều về hạ tầng giữa các tổ chức tín dụng và vùng miền, nguy cơ gian lận trong môi trường số cùng những khoảng trống pháp lý đối với công nghệ mới. Những hạn chế về thiết bị, kết nối và kỹ năng sử dụng dịch vụ có thể khiến người cao tuổi, người dân vùng sâu, vùng xa và các nhóm dễ bị tổn thương gặp khó khăn khi những phương thức thanh toán truyền thống bị thu hẹp quá nhanh.
Từ thực tế đó, vấn đề đặt ra không phải là làm chậm tốc độ phổ cập thanh toán số, mà là bảo đảm người dân luôn có phương án thay thế khi hệ thống điện tử gặp sự cố. Một nền tảng thanh toán có thể hoạt động hiệu quả trong điều kiện bình thường nhưng vẫn chưa đủ khả năng chống chịu nếu không duy trì được các giao dịch thiết yếu trong tình huống khẩn cấp.
Từ Nghị quyết 57 đến yêu cầu an toàn ngay từ thiết kế
Bài học Thụy Điển có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và hoàn thiện các chính sách bảo đảm an ninh, an toàn cho hạ tầng số quốc gia. Theo Nghị quyết 57, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia phải gắn với bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.
Vận dụng tinh thần này vào lĩnh vực thanh toán, thành công của chuyển đổi số không nên chỉ được đánh giá bằng số lượng giao dịch, tốc độ xử lý hay mức độ phổ cập mã QR. Một tiêu chí quan trọng khác là khả năng duy trì dịch vụ khi hạ tầng gặp trục trặc, đặc biệt đối với những giao dịch liên quan trực tiếp đến đời sống người dân.
Yêu cầu đó càng được làm rõ trong Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ ngày 7/7/2026 kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW . Thông báo 24 nhấn mạnh nguyên tắc không đánh đổi an ninh, an toàn để lấy phát triển; các hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế, xây dựng, vận hành theo yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn ngay từ đầu, đồng thời không vì lo ngại rủi ro mà làm chậm đổi mới sáng tạo.
Đối với thanh toán số, tinh thần này gợi mở yêu cầu xây dựng phương án dự phòng ngay từ giai đoạn thiết kế, thay vì chỉ tìm cách khắc phục sau khi sự cố xảy ra. Điều đó đòi hỏi xác định trước những dịch vụ phải được duy trì, khả năng chịu đựng gián đoạn của từng hệ thống và trách nhiệm của các bên tham gia.
Trước hết, Việt Nam có thể nghiên cứu các kịch bản gián đoạn thanh toán do mất điện diện rộng, đứt kết nối viễn thông, tấn công mạng hoặc sự cố tại một nhà cung cấp dịch vụ lớn. Trong những tình huống này, cần ưu tiên khả năng thanh toán cho thực phẩm, thuốc men, nhiên liệu, dịch vụ y tế và các nhu cầu thiết yếu khác. Các cơ quan quản lý, ngân hàng và doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thanh toán cần có cơ chế phối hợp, khôi phục hoạt động và thông tin kịp thời tới người dân.
Cùng với đó, việc duy trì tiền mặt cần được xem xét như một thành phần của hệ thống dự phòng, thay vì giải pháp đối lập với thanh toán số. Khả năng tiếp cận tiền mặt tại ngân hàng, máy rút tiền và các điểm cung ứng dịch vụ, cũng như khả năng chấp nhận tiền mặt tại những cơ sở kinh doanh thiết yếu, cần được đánh giá phù hợp với điều kiện từng địa phương. Kinh nghiệm Thụy Điển có thể tham khảo, nhưng không nên sao chép máy móc mức dự trữ tiền mặt hay phạm vi bắt buộc chấp nhận tiền mặt.
Một hướng nghiên cứu khác là phát triển các phương thức thanh toán điện tử có khả năng hoạt động khi kết nối bị gián đoạn. Tuy nhiên, thanh toán ngoại tuyến cần được thử nghiệm thận trọng về giới hạn giao dịch, cơ chế xác thực, phòng chống gian lận, xử lý giao dịch trùng lặp và đối soát sau khi kết nối được khôi phục. Đây là những yêu cầu kỹ thuật và pháp lý cần giải quyết trước khi triển khai trên diện rộng.
Trong tham luận tại hội thảo ngày 14/10, nhóm chuyên gia Học viện Ngân hàng đề xuất lộ trình phát triển hệ sinh thái thanh toán số theo ba giai đoạn. Trong ngắn hạn, nhóm nghiên cứu kiến nghị tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phát hiện gian lận theo thời gian thực và mở rộng kết nối thanh toán xuyên biên giới. Trong trung hạn, trọng tâm là nâng cấp hạ tầng thanh toán thời gian thực, xây dựng chuẩn giao diện lập trình ứng dụng (API) chung và hoàn thiện khung pháp lý cho ngân hàng mở. Về dài hạn, nhóm đề xuất nghiên cứu, thí điểm tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) theo lộ trình thận trọng.
Những định hướng này có thể hỗ trợ hiện đại hóa hệ thống thanh toán, nhưng cần được đặt trong yêu cầu chung về khả năng chống chịu. Đặc biệt, CBDC hay các hình thức thanh toán điện tử mới không mặc nhiên thay thế được tiền mặt trong mọi tình huống mất điện hoặc mất kết nối. Khả năng hoạt động dự phòng của từng giải pháp phải được kiểm chứng bằng thử nghiệm thực tế và đánh giá rủi ro độc lập.
Về dài hạn, Việt Nam cần hướng tới một hệ thống thanh toán có nhiều lớp bảo vệ, trong đó các phương thức điện tử hiện đại, hạ tầng dự phòng và tiền mặt có thể bổ sung cho nhau. Cách tiếp cận này vừa tạo điều kiện tiếp tục đổi mới sáng tạo, vừa hạn chế nguy cơ gián đoạn dịch vụ trên diện rộng.
Thụy Điển bảo vệ tiền mặt không phải vì thất vọng với công nghệ, mà vì nhận thức rằng hiệu quả vận hành trong điều kiện bình thường không thể thay thế khả năng chống chịu trước khủng hoảng. Đối với Việt Nam, bài học quan trọng là chuyển đổi số phải đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo vệ khả năng tiếp cận của người dân. Theo tinh thần Nghị quyết 57 và Thông báo 24, một hệ thống thanh toán thực sự hiện đại không chỉ nhanh, thuận tiện và an toàn, mà còn phải tiếp tục phục vụ được những nhu cầu thiết yếu khi các điều kiện vận hành thông thường không còn được bảo đảm.
