Tiền đặt cọc từ nước ngoài chuyển thành vốn góp: Doanh nghiệp cần điều kiện gì?
Khoản tiền nhà đầu tư nước ngoài chuyển vào Việt Nam để đặt cọc, phục vụ hoạt động chuẩn bị đầu tư có thể được chuyển thành vốn góp sau khi dự án được cấp phép. Tuy nhiên, khoản tiền này không mặc nhiên được ghi nhận là vốn góp.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa hướng dẫn việc quản lý ngoại hối đối với khoản tiền nhà đầu tư nước ngoài chuyển trực tiếp vào Việt Nam để đặt cọc mua đất, xây dựng nhà xưởng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư.

Ảnh minh họa.
Vấn đề được đặt ra từ trường hợp doanh nghiệp của ông Nguyễn Thái Bình. Trong giai đoạn chuẩn bị thành lập, để đặt cọc mua đất xây dựng nhà xưởng tại khu công nghiệp, doanh nghiệp đã chuyển tiền trực tiếp từ tài khoản ở nước ngoài cho ban quản lý khu công nghiệp, không thông qua tài khoản thanh toán mở tại ngân hàng được phép tại Việt Nam.
Sau khi doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và các giấy tờ liên quan, nhà đầu tư muốn xác định khoản tiền đặt cọc đã chuyển có được ghi nhận là một phần vốn góp hợp lệ hay không.
Theo Ngân hàng Nhà nước, Điều 8 Thông tư số 06/2019/TT-NHNN quy định về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam cho phép nhà đầu tư nước ngoài chuyển tiền vào Việt Nam trước khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Nguồn tiền có thể được chuyển trực tiếp từ nước ngoài hoặc từ tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ, đồng Việt Nam của chính nhà đầu tư nước ngoài mở tại ngân hàng được phép tại Việt Nam. Mục đích chuyển tiền phải nhằm thanh toán các chi phí hợp pháp phát sinh trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
Sau khi dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, số tiền đã chuyển vào Việt Nam để thực hiện hoạt động chuẩn bị đầu tư có thể được sử dụng để chuyển một phần hoặc toàn bộ thành vốn góp. Việc chuyển đổi phải dựa trên thỏa thuận giữa các bên liên quan và có đầy đủ tài liệu, chứng từ hợp lệ.
Như vậy, xét dưới góc độ quản lý ngoại hối, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển tiền trực tiếp từ nước ngoài để thanh toán khoản đặt cọc phục vụ hoạt động chuẩn bị đầu tư. Giao dịch này phù hợp quy định nếu khoản chi có mục đích hợp pháp và được chứng minh bằng hồ sơ, chứng từ đầy đủ.
Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước lưu ý, việc khoản tiền đặt cọc có được ghi nhận chính thức là vốn góp của nhà đầu tư hay không không thuộc chức năng quản lý nhà nước về ngoại hối của cơ quan này. Nội dung đó phải được xem xét theo pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, kế toán và các quy định liên quan.
Điều này đồng nghĩa khoản tiền đặt cọc không tự động trở thành vốn góp ngay khi doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Nhà đầu tư và doanh nghiệp cần thực hiện các thủ tục cần thiết, xác lập rõ thỏa thuận chuyển khoản tiền chuẩn bị đầu tư thành vốn góp, đồng thời bảo đảm số tiền được ghi nhận phù hợp với vốn đầu tư, vốn điều lệ và tiến độ góp vốn trong hồ sơ pháp lý của dự án.
Để hạn chế rủi ro, doanh nghiệp cần lưu giữ chứng từ chuyển tiền từ nước ngoài; hợp đồng hoặc thỏa thuận đặt cọc; tài liệu chứng minh mục đích sử dụng tiền; chứng từ của bên nhận tiền; thỏa thuận chuyển khoản tiền chuẩn bị đầu tư thành vốn góp và các giấy tờ liên quan đến việc cấp phép dự án.
Doanh nghiệp cũng nên đối chiếu số tiền, chủ thể chuyển tiền, chủ thể nhận tiền và nội dung giao dịch với hồ sơ đăng ký đầu tư. Trường hợp khoản tiền được chuyển trực tiếp cho một bên thứ ba để thanh toán chi phí chuẩn bị dự án, hồ sơ cần thể hiện rõ mối liên hệ giữa khoản chi này với hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
Theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước, nhà đầu tư cần căn cứ các quy định pháp luật liên quan và liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được hướng dẫn cụ thể về việc ghi nhận khoản tiền đặt cọc thành vốn góp.

