Tiết kiệm điện, xăng dầu để đảm bảo an ninh năng lượng
An ninh năng lượng chỉ bàn 'nguồn cung' chưa đủ, còn phải chú ý đến 'cầu' từ các biện pháp tiết kiệm năng lượng, điện, xăng dầu…
Góc nhìn mới về đảm bảo an ninh năng lượng
Sáng 26/3, Tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương đã tổ chức Hội thảo “Bảo đảm an ninh năng lượng Việt Nam trong bối cảnh xung đột và biến động địa chính trị tại Trung Đông”.
Tại hội thảo, ông Trần Quốc Khánh, Thường trực Hội đồng tư vấn Chính sách của Thủ tướng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương cho biết, biến động địa chính trị tại Trung Đông đã và đang tác động đến an ninh năng lượng toàn cầu, trong đó có Việt Nam.
Theo ông Trần Quốc Khánh, công tác đảm bảo an ninh năng lượng tại Việt Nam trong bối cảnh xung đột địa chính trị đang đối mặt với nhiều thách thức. Trước hết là hệ thống hạ tầng năng lượng, trong đó lưới điện truyền tải vẫn còn những điểm nghẽn; quá trình chuyển dịch năng lượng xanh hơn, sạch hơn đang đặt ra yêu cầu rất cao về công nghệ, tài chính; Việt Nam đặt mục tiêu giảm phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, đòi hỏi lộ trình chuyển đổi sâu rộng và bài bản…
“Những thách thức từ nội tại cùng với xung đột Trung Đông đang là phép thử đối với khả năng chống chịu và thích ứng cũng như tự chủ của hệ thống năng lượng tại Việt Nam”, nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương nhìn nhận.

Ông Trần Quốc Khánh, Thường trực Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương cho rằng, đảm bảo an ninh năng lượng cần chú ý đến "cầu" từ các giải pháp tiết kiệm điện, xăng dầu...
Đáng chú ý, đưa ra quan điểm về đảm bảo an ninh năng lượng, ông Trần Quốc Khánh cho rằng, cần nhìn nhận lại khái niệm an ninh năng lượng theo cách rộng hơn. Nếu trước đây, đảm bảo an ninh năng lượng chủ yếu là đảm bảo đủ nguồn cung với chi phí hợp lý thì ngày nay, đảm bảo an ninh năng lượng cần hướng tới tiếp cận toàn diện hơn, đó là bảo đảm tính tự chủ, tính linh hoạt và tính bền vững của hệ thống năng lượng.
“Điều này có nghĩa là không chỉ đủ năng lượng mà còn phải là năng lượng an toàn, ổn định, có khả năng thích ứng với các cú sốc bên ngoài và phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững. An ninh năng lượng chỉ bàn “nguồn cung” thì chưa đủ, còn phải chú ý đến phía “cầu”. “Cầu” từ các biện pháp tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm điện, xăng dầu…”, ông Trần Quốc Khánh phân tích.
Cùng chung quan điểm này, TS. Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cũng cho rằng, an ninh năng lượng trong bối cảnh mới hôm nay không chỉ còn đơn thuần đảm bảo nguồn cung năng lượng, mà là “làm thế nào để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia một cách tự chủ, linh hoạt, công bằng, bao trùm và bền vững trong một thế giới đầy bất định?”.

TS. Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đưa ra nhiều giải pháp để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia tự chủ, linh hoạt, công bằng...
Đưa ra giải pháp để đảm bảo an ninh năng lượng trong bối cảnh mới, TS. Tạ Đình Thi nhìn nhận, cần biến những thách thức mang tính bất định từ bên ngoài thành động lực để đẩy nhanh các quyết sách chiến lược bên trong. "Đây chính là lúc để chúng ta không chỉ “ứng phó” mà còn “nâng cao” năng lực tự chủ và năng lực chống chịu của quốc gia", TS. Tạ Đình Thi nói.
Làm được điều đó, theo TS. Tạ Đình Thi, trước hết, cần sự đổi mới về tư duy phát triển. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định rõ, “thể chế phát triển” phải là đột phá chiến lược. Trong lĩnh vực năng lượng, điều này có nghĩa là phải mạnh dạn hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ, khả thi, nghiên cứu, từng bước xóa bỏ cơ chế “xin - cho” trong quy hoạch và đầu tư.
Cần có cơ chế đặc thù, vượt trội để thu hút nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt cho các dự án năng lượng trọng điểm như điện gió ngoài khơi, điện khí LNG… qua đó, giảm áp lực lên ngân sách nhà nước và tăng tính tự chủ. Tinh thần phải “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”, như tinh thần chỉ đạo xuyên suốt trong các văn kiện Đại hội.
Thứ hai, về cơ cấu năng lượng, cần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh và chuyển đổi số một cách bài bản. Báo cáo chính trị Đại hội XIV đã xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của tăng trưởng. Trong lĩnh vực năng lượng, điều này càng cấp thiết hơn. Đồng thời, phải coi chuyển đổi năng lượng là một trụ cột của an ninh năng lượng, không chỉ để thực hiện cam kết quốc tế mà còn để giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu, vốn dễ bị tổn thương trước những biến động địa chính trị.
“Việt Nam có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo, vậy ta cần phải tận dụng lợi thế này và xây dựng các trung tâm năng lượng sạch, từ đó tạo ra nguồn lực mới, bền vững”, TS. Tạ Đình Thi đề xuất.
Đẩy mạnh ngoại giao năng lượng
PGS.TS Đinh Công Hoàng, Trưởng Phòng Nghiên cứu Trung Đông và Tây Á, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi nêu các giải pháp ngắn hạn - trung hạn - dài hạn. Trong đó, giải pháp ngắn hạn trong năm 2026 là ưu tiên “khóa” nguồn cung và ổn định kỳ vọng.
Phân tích rõ hơn, PGS.TS Đinh Công Hoàng cho biết, trước hết cần ngoại giao năng lượng; đa dạng hóa nguồn nhập khẩu dầu thô và sản phẩm, đàm phán linh hoạt với các đối tác ngoài khu vực xung đột; mở kênh làm việc song song giữa Chính phủ - doanh nghiệp - nhà cung cấp chiến lược.
Thứ hai, ổn định vĩ mô. Điều hành phối hợp giá xăng dầu, tỷ giá, ngoại tệ và tín dụng lưu động cho doanh nghiệp đầu mối; giảm thuế, phí có mục tiêu nếu sốc giá kéo dài.
Thứ ba, quản trị chuỗi xuất khẩu, trong đó, khuyến khích đàm phán điều kiện giao hàng theo hướng giảm rủi ro cước biển; chủ động chuyển tuyến, tăng dự trữ nguyên liệu và sử dụng air cargo có chọn lọc.

Toàn cảnh Hội thảo “Bảo đảm an ninh năng lượng Việt Nam trong bối cảnh xung đột và biến động địa chính trị tại Trung Đông”.
Về trung hạn, đẩy nhanh xây dựng tổng kho xăng dầu dữ trữ chiến lược, chuyển “bộ đệm ngắn” thành năng lực can thiệp vào thị trường; nâng độ linh hoạt của các nhà máy lọc hóa dầu; hoàn thiện cơ chế giám sát rủi ro năng lượng - logistics.
PGS.TS Đinh Công Hoàng nhấn mạnh, việc hoàn thiện mạng lưới kho ngầm dự trữ chiến lược không chỉ tạo ra lá chắn vật lý chống lại rủi ro đứt gãy hàng hải như trường hợp eo biển Hormuz, mà còn cung cấp công cụ kinh tế để Chính phủ tham gia điều tiết, bình ổn thị trường nội địa, hướng tới mô hình điều hành tương tự như của IEA.
Về dài hạn, tái cấu trúc, chuyển dịch xanh và kỷ nguyên điện hạt nhân sẽ là những trụ cột. Một bước ngoặt mang tính lịch sử, quyết định tương lai an ninh năng lượng dài hạn của Việt Nam vừa diễn ra. Ngày 23/3/2026, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Liên bang Nga, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Thủ tướng Nga Mikhail Mishustin đã chính thức chứng kiến lễ ký kết Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác xây dựng Nhà máy điện hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam.
Quyết định tái khởi động dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 (dự kiến đặt tại xã Phước Dinh) sau một thập kỷ đánh dấu việc Việt Nam đã chuyển từ giai đoạn thăm dò sang trạng thái sẵn sàng. Điểm mấu chốt của dự án là việc lựa chọn công nghệ lò phản ứng VVER-1200 thế hệ tiên tiến nhất của Tập đoàn nhà nước Nga Rosatom.
Đây là giải pháp chiến lược tối thượng giúp Việt Nam “miễn nhiễm” với các cú sốc gián đoạn tuyến hàng hải và biến động giá cực đoan của nhiên liệu hóa thạch (như than hay khí LNG nhập khẩu từ Trung Đông), đồng thời đáp ứng cam kết Net-Zero và tạo lợi thế cạnh tranh tuyệt đối để thu hút dòng vốn FDI trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn. Bên cạnh điện hạt nhân, phát triển năng lượng tái tạo theo Quy hoạch Điện VIII (PDP8) vẫn là trụ cột quan trọng.
Như vậy, Việt Nam đang thiết lập một hệ thống phòng thủ đa lớp vững chắc nhất. Nền tảng an ninh năng lượng tự cường này chính là bệ phóng để nền kinh tế trụ vững trước mọi cơn địa chấn toàn cầu, bảo đảm sự phát triển bền vững và khẳng định vị thế độc lập, tự chủ của quốc gia trong kỷ nguyên địa chính trị mới.













