Tín chỉ carbon và bài toán 'cơm áo gạo tiền' của lâm dân
Tín chỉ carbon là giải pháp đảm bảo sinh kế rừng cho bà con lâm dân, thay cho những mô hình độc canh cây công nghiệp gây hệ lụy lâu dài cho môi trường.
Tại một trang trại tư nhân nước Úc, có một dải đất từng bị bỏ hoang, cằn cỗi và trơ trọi. Người chủ trang trại, đứng trước mảnh đất chết, đã quyết định làm một việc mà nhiều người thời bấy giờ cho là phi kinh tế: Trồng hàng ngàn cây xanh chỉ để làm thức ăn cho loài gấu túi Koala.
Nhiều năm trôi qua, một phép màu tĩnh lặng đã diễn ra. Hệ sinh thái nhỏ bé bắt đầu hồi sinh. Những con Koala, loài vật tưởng chừng đã vắng bóng vĩnh viễn ở khu vực đó, bắt đầu tìm về nương náu. Và rồi, chỉ vài tháng trước, một chú gấu Koala con đã cất tiếng khóc chào đời ngay trên mảnh đất từng bị xem là tử địa ấy.
Câu chuyện tại quê nhà được GS. John Quayle, Đại học Sydney, dẫn lại như một minh chứng cho thấy sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên, dưới bàn tay chăm bẵm của con người, có thể hồi sinh một cách thần kỳ.
Tuy nhiên, làm thế nào để nhân rộng câu chuyện ấm áp của chú gấu Koala ấy ra hàng triệu ha rừng đang ngày đêm bị tàn phá trên toàn cầu, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển, nơi thu nhập của một bộ phận người dân vẫn còn là bài toán khó như ở Việt Nam.
Cần nhiều đáp số cho câu trả lời này. Trong số đó, câu chuyện tín chỉ carbon chất lượng cao từ những cánh rừng đa dạng sinh học đang nổi lên như một giải pháp vẹn toàn và phù hợp với xu thế toàn cầu.

Chỉ còn tỷ lệ nhỏ diện tích rừng tại Việt Nam là rừng nguyên sinh. Ảnh: Hoàng Anh.
Ảo ảnh của màu xanh và bi kịch của tư duy "ăn xổi"
GS.TS Friedhelm Goeltenboth, Đại học Hohenheim, nhắc đến những cánh rừng Việt Nam với giọng có phần xót xa. Dưới áp lực tăng trưởng kinh tế, nhiều cánh rừng tự nhiên trên khắp đất nước đã bị đốn bỏ, thay thế bằng những đồn điền độc canh, trồng cây keo, bạch đàn hay cao su.
Những đồn điền ấy đem lại sắc xanh, tạo ra cảm giác giả tạo rằng rừng vẫn đang tồn tại. Tuy nhiên, theo ông University of Hohenheim, đó là những "sa mạc xanh".
Vị chuyên gia sinh thái rừng cho biết, trong số 15 triệu ha rừng ở Việt Nam, chỉ còn vỏn vẹn 0,25% là rừng nguyên sinh. Khi rừng tự nhiên nhường chỗ cho rừng keo, rừng cao su độc canh, hàng loạt thảm kịch âm thầm diễn ra. Các loài côn trùng bản địa không thể sống trên cây cao su, những sinh vật thụ phấn biến mất kéo theo sự suy tàn của hệ sinh thái nông nghiệp.
Đất đai quý giá, thứ phải mất tới nửa thiên niên kỷ mới tạo ra được một đốt ngón tay, bị rửa trôi ra đại dương sau mỗi vòng đời thu hoạch ngắn ngủi. Nền lâm nghiệp bóc lột này vắt kiệt sức lực của mẹ thiên nhiên chỉ để đổi lấy những đồng tiền tức thời.
Đồng quan điểm, ông John Quayle chỉ ra sự “giả tạo” của đồn điền độc canh nằm ở việc, nếu chỉ trồng một loại cây, thu hoạch sau 5 – 10 năm, phải mất xấp xỉ 40 năm, khu rừng đó mới hấp thụ đủ 1 tấn khí thải carbon.
Sự sụp đổ của tư duy cũ buộc chúng ta phải định giá lại mọi thứ. Lâu nay, những người khai thác lâm nghiệp chỉ nhìn thấy cái cây như một "tấm gỗ ép dựng đứng". Khi cái cây đổ xuống, người ta đút túi khoản tiền bán gỗ, nhưng lại đẩy toàn bộ hệ lụy cho xã hội gánh vác.
Ai sẽ trả tiền cho mạch nước ngầm bị khô cạn? Ai sẽ đền bù cho những ngôi làng bị chôn vùi trong thảm kịch môi trường? Vô số giá trị sinh thái khổng lồ vô hình trung bị xem là "hàng hóa miễn phí" để con người tha hồ bóc lột.

GS. John Quayle tại Tọa đàm chuyên đề Chuỗi cung ứng tín chỉ carbon, giá trị gia tăng và chiến lược đồng quản trị lưu vực đầu nguồn do Viện CODE tổ chức. Ảnh: Thanh Toàn.
Chính tại điểm nghẽn nhận thức này, thị trường tín chỉ carbon xuất hiện như một cuộc cách mạng. Theo GS. John Quayle, cơ chế của tín chỉ carbon sinh ra chính là để buộc thế giới tư bản phải trả tiền cho những giá trị sinh thái "miễn phí" đó.
Đột nhiên, luật chơi thay đổi. Một cái cây đang sống, đang quang hợp và giữ lại carbon bỗng nhiên có giá trị kinh tế bằng tiền mặt, thậm chí cao hơn hẳn giá trị của chính nó khi bị xẻ thịt.
Các tập đoàn đa quốc gia và các chính phủ, vì áp lực tuân thủ luật chơi giảm phát thải, sẵn sàng bỏ ra hàng chục đô la cho mỗi tấn carbon được giữ lại trong rừng. Nhờ vậy, nỗ lực bảo tồn không còn là một sự hi sinh cam chịu, mà biến thành một loại hàng hóa xuất khẩu sinh lời.
‘Bản thiết kế’ phục hồi rừng
Dù biết trồng rừng lâu năm là tốt, nhưng những người nông dân nghèo ở các vùng sơn cước không thể hít khí trời và nhịn đói trong suốt năm mươi năm để chờ rừng tạo ra tín chỉ.
Để giải bài toán sinh kế hóc búa này, ông Friedhelm Goeltenboth thiết tha kêu gọi những chủ rừng trồng keo thực hiện một “bước lùi chiến lược”, đó là giữ lại khoảng 10% diện tích trồng cây bản địa lâu năm và cây ăn quả tại mỗi đồn điền.
Điều này dựa trên mô hình Canh tác nông lâm kết hợp do ông Friedhelm Goeltenboth nghiên cứu, nơi đất đai được chia tỷ lệ hài hòa giữa cây cung cấp tinh bột, khu vực chăn nuôi tạo protein, tầng tán trồng cây lấy vitamin và một không gian bảo vệ đất.
Sự đa dạng hóa này chính là tấm khiên sinh học vững chắc nhất bảo vệ nông dân khỏi những thảm họa dịch bệnh diệt vong, đồng thời tạo ra nguồn lương thực tự cấp tự túc ngay dưới tán rừng lớn.
Khi hệ sinh thái nông lâm kết hợp ấy bắt đầu bén rễ, ông John Quayle đề xuất triển khai mô hình hợp tác xã để tạo nguồn tài chính để nuôi dưỡng dự án.
Theo vị chuyên gia đến từ Úc, người nông dân đơn lẻ không thể bước ra thế giới để bán lượng carbon ít ỏi của mình. Họ phải tập hợp lại thành một tổ chức có tư cách pháp lý, cùng nhau quản lý và bảo vệ rừng.

Tín chỉ carbon rừng tạo sinh kế bền vững cho bà con lâm dân. Ảnh: Hoàng Anh.
“Điều tuyệt vời nhất của tín chỉ carbon là nó không "trả một cục rồi biến mất". Nếu cộng đồng ký một hợp đồng dài hạn, tiền sẽ được rót về đều đặn hàng năm giống như một khoản lương hưu bền bỉ, với điều kiện vệ tinh chứng minh khu rừng vẫn đang vươn lên xanh tốt”, ông John Quayle nói tại Tọa đàm chuyên đề Chuỗi cung ứng tín chỉ carbon, giá trị gia tăng và chiến lược đồng quản trị lưu vực đầu nguồn do Viện Tư vấn phát triển (CODE) tổ chức.
Bức tranh sinh kế nhờ đó trở nên tươi sáng và trọn vẹn. Trong ngắn hạn, người dân có thu nhập từ tiền công ươm giống và tuần tra rừng. Trong trung hạn, những tán cây bản địa bắt đầu cho thu hoạch trái cây, dược liệu và mật ong.
Và về dài hạn, họ nhận được khoản tiền khổng lồ chia đều từ tín chỉ carbon. Cuộc chiến khốc liệt giữa bảo tồn tự nhiên và sinh tồn của con người cuối cùng cũng tìm được một thỏa hiệp hoàn mỹ.
Chìa khóa tín chỉ carbon: quyền sử dụng đất và tính minh bạch
Dù ý tưởng có hay đến đâu, thị trường quốc tế không bao giờ hoạt động dựa trên sự ngây thơ. Cả hai chuyên gia đều đưa ra những cảnh báo về những "tử huyệt" có thể bóp nghẹt mọi giấc mơ xanh.
Điều kiện đầu tiên chính là quyền sử dụng đất. Ông John Quayle khẳng định, câu hỏi đầu tiên mà mọi nhà đầu tư đặt ra trước khi rót vốn là: Ai thực sự là chủ sở hữu hợp pháp của khu vực này?
Nếu đó là đất cộng đồng, họ phải chứng minh được quyền sử dụng dài hạn, bất khả xâm phạm. Sẽ không một tỷ phú hay quỹ đầu tư nào dám ném tiền vào một khu rừng có nguy cơ bị thu hồi làm dự án thủy điện hay khu nghỉ dưỡng vào ngày mai.
Yêu cầu pháp lý này lại tình cờ đáp ứng trọn vẹn khao khát về công bằng xã hội mà nhà sinh thái học Friedhelm Goeltenboth luôn đau đáu.

GS. Friedhelm Goeltenboth tại Tọa đàm chuyên đề Chuỗi cung ứng tín chỉ carbon, giá trị gia tăng và chiến lược đồng quản trị lưu vực đầu nguồn do Viện CODE tổ chức. Ảnh: Thanh Toàn.
Chứng kiến biết bao "người của hệ sinh thái" bị tước đoạt tài nguyên bởi sự nhúng tay của những thế lực tài phiệt tham lam, ông cho rằng, quyền sử dụng đất được minh bạch hóa không chỉ là tấm vé bước ra thương trường quốc tế, mà còn là tấm khiên thép bảo vệ người lâm dân nghèo khỏi sự bóc lột.
Yếu tố thứ hai quyết định sự sống còn của hệ thống chính là sự trung thực trong khâu đo lường, báo cáo và xác minh (MRV). GS. John Quayle cảnh báo, chỉ cần một sự gian dối bị phanh phui trong khâu làm báo cáo, giá trị tín chỉ carbon của quốc gia đó sẽ lập tức lao dốc không phanh.
Để ngăn chặn kịch bản này này, sự đánh giá từ các tổ chức kiểm định độc lập là bắt buộc. Chỉ khi khoa học đo lường chính xác tuyệt đối kết hợp với các tiêu chuẩn kiểm toán quốc tế nghiêm ngặt, thị trường carbon mới thực sự mang lại giá trị vĩnh cửu.
Vượt qua "điểm không thể quay đầu"
Thế giới đang thay đổi khốc liệt, một phần không nhỏ dưới tác động của biến đổi khí hậu. GS. Friedhelm Goeltenboth cảnh báo, nhân loại đang đứng trước “điểm không thể quay đầu”. Nếu vẫn bảo thủ với tư duy cũ, chỉ hai hoặc ba thế hệ nữa thôi, mọi thứ sẽ hoàn toàn chấm dứt.
Tuy nhiên, trong bóng tối dày đặc của cuộc khủng hoảng, vẫn có ánh sáng của những giải pháp. Khi giới khoa học sinh thái vạch ra con đường phục hồi sự sống bằng nguyên lý đa dạng của tự nhiên, thì kinh tế học hiện đại đã kịp thời mang đến thị trường carbon như một cỗ máy bơm nhiên liệu vĩ đại để hiện thực hóa con đường ấy.
Hai lăng kính này không thể tách rời.
Mất đi rừng nguyên bản, thị trường carbon không có sản phẩm chất lượng để bán. Thiếu đi dòng vốn từ tín chỉ carbon, những người nông dân cùng quẫn sẽ lại phải vác cưa vào rừng đốn hạ tương lai của chính mình.
Chỉ khi các chính phủ minh bạch hóa quyền sở hữu đất, các nhà khoa học bảo đảm sự trung thực trong đo lường, và cộng đồng cùng nhau bảo vệ rừng, chúng ta mới có thể lật ngược thế cờ.
Một tương lai không xa, thành tựu của chúng ta sẽ không chỉ được đo đếm bằng những con số hàng triệu đô la, mà còn được đo bằng sự hồi sinh của những cánh rừng nhiệt đới, bằng sự ấm no của người nông dân, và bằng tiếng cựa mình của những sinh linh bé nhỏ tìm về nương náu dưới bóng râm bình yên của đất mẹ.











