Tín dụng xanh: Gỡ điểm nghẽn, hỗ trợ phát triển bền vững
Tín dụng xanh đang từng bước trở thành một trong những kênh vốn quan trọng cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững.

Hoàn thiện chính sách, khơi thông dòng vốn xanh
Trên cơ sở định hướng ưu tiên của Chính phủ đối với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững, NHNN đã từng bước hoàn thiện khuôn khổ chính sách về ngân hàng xanh, tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường - xã hội. Theo Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh, cùng với việc ban hành các văn bản hướng dẫn hoạt động cấp tín dụng xanh, NHNN đã triển khai các cơ chế tín dụng ưu đãi đối với nông nghiệp hữu cơ, mô hình kinh tế tuần hoàn và các dự án phát triển bền vững.
Đáng chú ý, NHNN đang trình Chính phủ dự thảo Nghị định hỗ trợ lãi suất 2% từ ngân sách nhà nước đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh vay vốn để triển khai các dự án xanh, dự án tuần hoàn và áp dụng các tiêu chuẩn ESG. Cùng với đó, NHNN tiếp tục phối hợp với các tổ chức quốc tế xây dựng hướng dẫn quản lý rủi ro môi trường - xã hội và nâng cao năng lực triển khai ESG cho các TCTD.
Trên nền tảng chính sách từng bước được hoàn thiện, nhiều TCTD đã chủ động mở rộng quy mô tín dụng xanh, đa dạng hóa nguồn vốn phục vụ các dự án chuyển đổi và từng bước hình thành chiến lược phát triển tài chính bền vững. Theo thống kê của NHNN, 82 TCTD đã phát sinh dư nợ tín dụng xanh với quy mô trên 828 nghìn tỷ đồng, tăng 4,6 lần so với thời điểm bắt đầu thống kê năm 2017, tương ứng tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20%/năm trong giai đoạn 2017-2025. Dòng vốn xanh tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, bảo tồn đa dạng sinh học và năng lượng xanh.
Bên cạnh đó, dư nợ được thực hiện đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đã vượt 5,7 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 30% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Những con số này cho thấy các yếu tố phát triển bền vững đang ngày càng được tích hợp sâu hơn vào hoạt động tín dụng, thay vì chỉ dừng lại ở một số chương trình hay sản phẩm riêng biệt.
Là một trong những ngân hàng tiên phong phát triển tài chính xanh, BIDV xác định phát triển bền vững là định hướng xuyên suốt trong hoạt động kinh doanh. Bên cạnh việc mở rộng tín dụng xanh, BIDV từng bước hoàn thiện hệ sinh thái tài chính bền vững thông qua việc xây dựng các khung tài chính bền vững theo thông lệ quốc tế, từ khoản vay, trái phiếu đến tiền gửi xanh.
BIDV giữ vị trí là một trong những ngân hàng dẫn đầu thị trường về tài trợ các dự án xanh với dư nợ tín dụng xanh đạt hơn 82.000 tỷ đồng, tập trung vào các lĩnh vực năng lượng tái tạo, công trình xanh, nông nghiệp và quản lý tài nguyên bền vững.
Trong khi đó, VPBank đẩy mạnh phát triển tài chính bền vững thông qua việc kết hợp huy động nguồn vốn quốc tế với mở rộng danh mục tín dụng xanh. Đến cuối năm 2025, ngân hàng đã huy động lũy kế gần 3 tỷ USD từ các định chế tài chính quốc tế nhằm bổ sung nguồn lực cho các chương trình tài chính bền vững. Đến quý I/2026, dư nợ tín dụng xanh đạt 45.539 tỷ đồng, chiếm khoảng 4,9% tổng dư nợ. Song song với việc mở rộng quy mô tài trợ, VPBank cũng từng bước hoàn thiện Khung tài chính bền vững và hệ thống quản trị rủi ro ESG theo các thông lệ quốc tế. Những bước đi này cho thấy các ngân hàng không chỉ gia tăng dư nợ mà còn chú trọng xây dựng nền tảng quản trị, sản phẩm và nguồn vốn phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn.
Bà Hoàng Thị Diệu Thúy, Giám đốc Quan hệ khách hàng cấp cao, Khối Khách hàng Doanh nghiệp và Định chế Tài chính, HSBC Việt Nam chia sẻ, trong bối cảnh phát triển bền vững ngày càng trở thành yêu cầu của cơ quan quản lý, nhà đầu tư và khách hàng, doanh nghiệp không chỉ cần công bố minh bạch các cam kết ESG mà còn phải chủ động quản trị các rủi ro liên quan để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đây cũng là cơ sở để các công cụ tài chính bền vững như khoản vay xanh, trái phiếu xanh, khoản vay liên kết bền vững hay tài trợ thương mại bền vững ngày càng phát huy vai trò hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi.
Làm gì để dòng vốn xanh chảy mạnh hơn?
Quy mô tín dụng xanh tại Việt Nam đã có bước phát triển tích cực trong những năm gần đây. Tuy nhiên, khi quy mô dư nợ không ngừng mở rộng, bài toán đặt ra hiện nay không chỉ là tăng thêm nguồn vốn mà còn là làm thế nào để dòng vốn ấy đến được đúng địa chỉ tạo ra hiệu quả thực chất. Thực tế cho thấy, quá trình chuyển đổi xanh vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản từ cơ chế chính sách, khả năng huy động nguồn lực, năng lực thẩm định của các TCTD đến khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của doanh nghiệp. Điều này khiến khoảng cách giữa nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh và số lượng dự án đủ điều kiện tiếp cận tín dụng vẫn còn khá lớn.
Theo bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng (NHNN), bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình triển khai tín dụng xanh và tài chính bền vững vẫn còn nhiều khó khăn. Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là khuôn khổ pháp lý liên quan đến hệ thống tiêu chí nhận diện dự án xanh, dự án tuần hoàn và việc áp dụng các tiêu chuẩn ESG chưa được hoàn thiện đồng bộ. Việc thiếu những tiêu chí rõ ràng, thống nhất không chỉ gây khó khăn cho các TCTD trong quá trình thẩm định mà còn khiến doanh nghiệp lúng túng khi xác định dự án, chuẩn bị hồ sơ và đáp ứng các điều kiện tiếp cận vốn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp có nhu cầu chuyển đổi nhưng chưa thể hình thành được các dự án đủ chuẩn để ngân hàng xem xét cấp tín dụng.
Bên cạnh điểm nghẽn về thể chế là bài toán nguồn lực. Nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế - xã hội và chuyển đổi xanh là rất lớn, trong khi khả năng cân đối nguồn lực của hệ thống ngân hàng còn nhiều thách thức, nhất là trong bối cảnh chênh lệch giữa huy động vốn và tín dụng tiếp tục tạo áp lực lên khả năng cung ứng vốn của các TCTD.
Không chỉ khó khăn trong việc huy động vốn trong nước cho các dự án xanh, việc huy động các nguồn lực quốc tế cũng còn nhiều rào cản. Theo đại diện Vụ Tín dụng, nguồn vốn quốc tế thường có chi phí cao, tiềm ẩn rủi ro tỷ giá và đi kèm những yêu cầu khắt khe về quy trình triển khai, trong khi thị trường trái phiếu xanh và thị trường carbon trong nước chưa phát triển tương xứng để chia sẻ gánh nặng huy động vốn dài hạn. Đây là nguyên nhân khiến hệ thống ngân hàng vẫn phải đóng vai trò là kênh cung ứng vốn chủ đạo cho quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế, dù đặc thù nguồn vốn của các ngân hàng chủ yếu là ngắn và trung hạn.
Cùng với bài toán về nguồn vốn, quá trình triển khai tín dụng xanh cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực thực thi của hệ thống ngân hàng. Theo đại diện NHNN, nhiều TCTD vẫn gặp khó khăn trong công tác thẩm định và quản trị rủi ro đối với các dự án xanh; việc triển khai các chuẩn mực quốc tế về tài chính xanh và ESG cũng gặp nhiều vướng mắc.
Từ góc độ doanh nghiệp, TS. Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) cho rằng, tín dụng xanh không thể chỉ là trách nhiệm của hệ thống ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt có quy mô nhỏ và vừa, vẫn thiếu công nghệ, nguồn nhân lực và năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn ESG, trong khi chi phí đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốn dài khiến quá trình chuyển đổi gặp nhiều trở ngại. Vì vậy, nếu không nâng cao năng lực của doanh nghiệp, khả năng hấp thụ dòng vốn xanh sẽ vẫn còn hạn chế. Theo vị chuyên gia, bên cạnh các chính sách tín dụng, doanh nghiệp cần được hỗ trợ về tư vấn kỹ thuật, đào tạo nhân lực, phát triển thị trường tín chỉ carbon và các cơ chế khuyến khích đầu tư xanh. Khi những điều kiện này được triển khai đồng bộ, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để đáp ứng các tiêu chuẩn xanh và nâng cao khả năng tiếp cận vốn.
Để tháo gỡ các điểm nghẽn trên, bà Hà Thu Giang cho biết, trong thời gian tới NHNN sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Trong đó, ngành Ngân hàng sẽ ưu tiên nguồn vốn tín dụng cho các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg; tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ lãi suất đối với các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng tiêu chuẩn ESG; mở rộng hợp tác với các định chế tài chính quốc tế để tiếp nhận nguồn lực tài chính và hỗ trợ kỹ thuật. Cùng với đó, NHNN sẽ tăng cường đào tạo về tài chính xanh, quản trị ESG và đẩy mạnh truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của cả TCTD và khách hàng. Tuy nhiên, để dòng vốn xanh thực sự được khơi thông, nỗ lực của riêng hệ thống ngân hàng là chưa đủ.
Điều cần thiết là sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương, hệ thống ngân hàng và cộng đồng doanh nghiệp trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường, phát triển thị trường trái phiếu xanh, thị trường carbon và các cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Tín dụng xanh sẽ chỉ thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng bền vững khi ba mắt xích được kết nối đồng thời: chính sách đủ rõ, thị trường đủ phát triển và doanh nghiệp đủ năng lực hấp thụ vốn. Khi đó, sự gia tăng của dư nợ tín dụng xanh mới có thể chuyển hóa thành những dự án xanh, những mô hình kinh tế tuần hoàn và những giá trị phát triển bền vững cho nền kinh tế.
Ông Nguyễn Đức Lệnh - Phó Giám đốc NHNN Chi nhánh Khu vực 2:
Tạo nền tảng cho tín dụng xanh phát triển

Tín dụng xanh đang đứng trước nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng trong thời gian tới. Trước hết, định hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng bền vững đã được xác lập rõ trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đối với ngành Ngân hàng, nhiều cơ chế cụ thể đã được ban hành nhằm định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực thân thiện với môi trường, đồng thời NHNN yêu cầu các TCTD tăng cường quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động cấp tín dụng. Đây là nền tảng quan trọng để tín dụng xanh phát triển ổn định và đi vào thực chất.
Bên cạnh yếu tố chính sách, nhu cầu chuyển đổi của doanh nghiệp cũng đang ngày càng rõ nét. Các yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc, chất lượng sản phẩm và điều kiện xuất khẩu đang tạo áp lực buộc doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất và mô hình quản trị. Khi sản xuất xanh dần trở thành điều kiện để tham gia thị trường, nhu cầu vốn cho đầu tư máy móc, công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải sẽ tiếp tục gia tăng. Đây chính là cơ sở để mở rộng cầu tín dụng xanh trong nền kinh tế.
Để dòng vốn tăng trưởng hiệu quả, vẫn cần tháo gỡ những khó khăn liên quan đến thông tin và dữ liệu. Các TCTD hiện còn gặp trở ngại trong việc tiếp cận cơ sở dữ liệu về dự án xanh, tình hình chấp hành quy định bảo vệ môi trường của doanh nghiệp cũng như các thông tin phục vụ đánh giá rủi ro. Khi dữ liệu chưa đầy đủ và thiếu tính kết nối, quá trình thẩm định, xét duyệt và quản trị khoản vay sẽ khó tránh khỏi thận trọng.
Vì vậy, cùng với việc tiếp tục thực hiện tốt các chính sách hiện hành, các TCTD cần đa dạng hóa sản phẩm, phương thức huy động vốn và cải tiến quy trình nội bộ để doanh nghiệp có thể tiếp cận vốn thuận lợi hơn. Đồng thời, công tác truyền thông chính sách cần được đẩy mạnh theo hướng thiết thực, từ đối thoại với doanh nghiệp, giới thiệu sản phẩm đến đào tạo cán bộ ngân hàng. Kinh nghiệm từ chuyển đổi số và thanh toán không dùng tiền mặt cho thấy, khi nhận thức được chuyển hóa thành hành động đồng bộ, một chủ trương mới có thể nhanh chóng trở thành hoạt động phổ biến trong toàn hệ thống.
Ông Hà Huy Cường - Phó Tổng giám đốc Nam A Bank:
Muốn thu hút vốn xanh, phải có dự án xanh

Để tín dụng xanh phát huy hiệu quả, vai trò ngân hàng không chỉ dừng lại ở việc cung ứng vốn mà còn phải trở thành cầu nối giữa doanh nghiệp với các định chế tài chính và quỹ đầu tư trong và ngoài nước. Nam A Bank xác định phát triển số và phát triển xanh là hai trụ cột chiến lược. Hiện nay, dư nợ tín dụng xanh chiếm khoảng 10% tổng danh mục cho vay của ngân hàng, cao hơn mặt bằng chung của Ngành. Để đạt được kết quả này, Nam A Bank đã chủ động hợp tác với nhiều định chế tài chính quốc tế nhằm tiếp cận không chỉ nguồn vốn mà cả kinh nghiệm, quy trình và các tiêu chuẩn kỹ thuật trong triển khai tín dụng xanh.
Qua quá trình làm việc với các đối tác quốc tế, ngân hàng nhận thấy nguồn lực dành cho tài chính xanh trên thế giới vẫn còn rất lớn. Tuy nhiên, để thu hút được dòng vốn đó, điều quan trọng là phải xây dựng được nền tảng phù hợp. Điều này không chỉ dừng ở việc có nhu cầu vay vốn mà còn cần hình thành các dự án, doanh nghiệp và lĩnh vực đầu tư đáp ứng các tiêu chuẩn xanh. Khi có những dự án đủ điều kiện, ngân hàng sẽ thuận lợi hơn trong việc kết nối doanh nghiệp với các quỹ đầu tư và các định chế tài chính quốc tế, qua đó mở rộng thêm các kênh huy động vốn ngoài nguồn tín dụng truyền thống.
Bên cạnh nguồn vốn, chuyển đổi xanh cần được thúc đẩy đồng thời với phát triển hạ tầng. Nhu cầu sử dụng điện tại các khu công nghiệp hiện rất lớn, vì vậy phát triển năng lượng tái tạo cần đi cùng các giải pháp lưu trữ điện để nâng cao hiệu quả sử dụng. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực có chi phí đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài nên rất cần sự chung tay của Nhà nước. Tương tự, quá trình phát triển giao thông xanh cũng cần được quy hoạch đồng bộ về hạ tầng, từ hệ thống cung ứng điện đến các điểm sạc, thay vì chỉ tập trung vào việc mở rộng phương tiện sử dụng điện.
Do đó, chuyển đổi xanh sẽ chỉ thực sự tăng tốc khi tài chính, hạ tầng và các dự án xanh được phát triển đồng thời. Ngân hàng có thể đóng vai trò khơi thông dòng vốn, nhưng để thu hút được nguồn lực trong và ngoài nước với quy mô lớn, nền kinh tế cần hình thành nhiều dự án xanh có chất lượng, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư và các định chế tài chính quốc tế.












