Tín ngưỡng thờ tổ nghề: Tri ân người mở nghiệp, giữ đạo làm nghề
Tín ngưỡng thờ tổ nghề là nét đẹp văn hóa gắn với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, góp phần kết nối cộng đồng, trao truyền tri thức và gìn giữ bản sắc làng nghề. Thông qua các nghi lễ tưởng niệm và truyện kể dân gian về những bậc tiền nhân có công khai sáng, truyền dạy nghề nhắc nhở mỗi thế hệ người thợ về ý thức trách nhiệm và đạo làm nghề.
Tự hào đất trăm nghề
Bắc Ninh - Kinh Bắc từ lâu được ngợi ca là vùng đất trăm nghề có mật độ làng nghề thủ công truyền thống phong phú nên tín ngưỡng thờ tổ nghề cũng được duy trì phổ biến ở nhiều cộng đồng làng nghề. Chẳng hạn người Thổ Hà, Phù Lãng tưởng nhớ các bậc tiền nhân có công truyền dạy nghề gốm. Người dân Đại Bái thờ tổ nghề đúc đồng Nguyễn Công Truyền. Người làng Vân thờ bà Nghi Điệt là vị tổ nghề nấu rượu được lưu truyền qua những truyện kể dân gian. Các phường thợ ở Phù Khê tôn kính thờ phụng tổ nghề mộc là Lỗ Ban và Nguyễn An. Một số địa phương còn duy trì tục thờ Thần Nông để thể hiện lòng biết ơn đối với những người khai mở nghề nông nghiệp...

Hằng năm, vào ngày 29/9 âm lịch, người dân làng nghề đúc đồng Đại Bái (phường Gia Bình) tổ chức lễ hội tưởng nhớ công đức Tổ nghề.
Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, tổ nghề hay còn gọi là tổ sư, thánh sư, nghệ sư là những người có công sáng lập, phát minh, truyền dạy hoặc phát triển một nghề nghiệp trong đời sống xã hội. Có vị được ghi chép với tiểu sử rõ ràng, có vị gắn với những câu chuyện dân gian lưu truyền qua nhiều thế hệ. Tổ nghề dù là nhân thần hay các nhân vật huyền thoại thì việc thờ phụng đều nhằm tri ân, khắc ghi công lao khai mở sinh kế, trao truyền kỹ nghệ và đặt nền móng cho sự phát triển của nghề. Đáng chú ý, ở nhiều địa phương, bên cạnh các nghi thức tế lễ, dâng hương tưởng nhớ tổ nghề còn tổ chức lễ hội với những cuộc thi, trò chơi gắn với thực hành và trình diễn nghề truyền thống. Đây cũng là dịp để cộng đồng củng cố những quy ước về chất lượng sản phẩm, chữ tín trong kinh doanh và trách nhiệm đối với phường nghề.
Trong tâm thức người thợ thủ công ở các làng nghề, mỗi thành quả lao động đều có sự phù trợ của tổ nghề, được đúc kết qua quan niệm “Tổ đãi”, “Tổ độ”. Bởi vậy, giữ nghề không đơn thuần là duy trì sinh kế hay bảo tồn kỹ thuật sản xuất mà còn là gìn giữ ký ức văn hóa, cốt cách và bản sắc của mỗi làng quê. Tại làng nghề đúc đồng Đại Bái (xã Gia Bình), người dân luôn tâm niệm sự phát triển, thịnh vượng trong sản xuất, kinh doanh có sự phù trợ của tổ nghề. Cùng với tổ nghề đúc đồng Nguyễn Công Truyền, người dân còn tôn vinh các vị hậu tiên sư gắn với từng dòng sản phẩm như: Phạm Ngọc Thanh là hậu tiên sư nghề đánh mâm; Nguyễn Viết Lai, Vũ Viết Thái là hậu tiên sư nghề đánh nồi; Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Công Tâm là hậu tiên sư nghề đánh ấm, đánh siêu...
Gìn giữ tinh hoa
Hiện nay, tổ dân phố Phù Khê Đông (phường Phù Khê) là làng nghề làm mộc duy nhất ở Bắc Ninh còn duy trì tục thờ tổ nghề. Bên cạnh Lỗ Ban là ông tổ chung của nghề mộc, người dân nơi đây còn tôn thờ ông Nguyễn An - kiến trúc sư, nhà điêu khắc tài danh sống vào thế kỷ XIV-XV. Tương truyền, khi quân Minh xâm lược nước ta, Nguyễn An cùng nhiều thợ thủ công tài giỏi bị bắt đưa sang Trung Quốc phục dịch trong các xưởng thủ công và công trình xây dựng. Nhờ tài năng xuất chúng, Nguyễn An được triều Minh trọng dụng và khâm phục. Ghi nhớ công lao của tiền nhân, người dân Phù Khê lập đền thờ, suy tôn Nguyễn An làm tổ nghề. Hằng năm, vào ngày mồng 7 tháng Giêng, các phường thợ tổ chức lễ tế tổ, dâng hương tưởng niệm và báo cáo thành quả hoạt động trong năm.
Trong đời sống hiện đại, khi thị trường mở rộng, công nghệ sản xuất không ngừng đổi mới, tín ngưỡng thờ tổ nghề vẫn luôn là điểm tựa tinh thần, nhắc nhở các thế hệ về công lao tiền nhân và gửi gắm những giá trị cốt lõi về chữ tâm, chữ tín cũng như trách nhiệm với từng sản phẩm.
Anh Lê Tiến Dũng, 48 tuổi, Trưởng Ban Khánh tiết Phường Thợ, tổ dân phố Phù Khê Đông cho biết: Đền thờ tổ nghề mộc được khánh thành, đưa vào sử dụng năm 2012. Trước đó, nhị vị tổ nghề được phối thờ tại một gian trong đình làng. Việc xây dựng ngôi đền riêng để thờ Tổ Mộc thể hiện lòng tri ân và ý thức gìn giữ truyền thống của cộng đồng địa phương. Công tác trông nom, đèn nhang tại đền thờ tổ nghề do Ban Khánh tiết Phường Thợ đảm nhiệm theo hình thức luân phiên. Hằng năm, hội đồng niên đủ 48 tuổi sẽ nhận trọng trách trong một năm, sau đó chuyển giao cho lớp kế tiếp. Quy định này góp phần duy trì nền nếp thờ tự, đồng thời bồi đắp tinh thần trách nhiệm và niềm tự hào nghề nghiệp qua các thế hệ.
Từ sự thành kính với tổ nghề, người Phù Khê luôn ý thức gìn giữ và phát huy tinh hoa nghề truyền thống. Sản phẩm ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng trong nước, quốc tế. Theo anh Nguyễn Văn Tiệp, Tổ trưởng tổ dân phố Phù Khê Đông, hiện nay địa phương có khoảng 200 hộ duy trì nghề truyền thống. Sự tiếp nối giữa tín ngưỡng thờ tổ nghề và hoạt động sản xuất góp phần bảo tồn di sản văn hóa làng nghề và khẳng định sức sống của tinh hoa chạm khắc gỗ Phù Khê trong đời sống hôm nay.
Tại làng nghề gốm Phù Lãng (phường Phù Lãng) tín ngưỡng thờ tổ nghề gốm cũng được người dân duy trì qua hàng trăm năm. Truyền rằng, vào cuối thời Lý, ba ông Đào Trí Tiến, Hứa Vĩnh Cảo và Lưu Phong Tú được triều đình cử đi sứ Trung Quốc. Trên đường trở về, khi qua tỉnh Quảng Đông thì gặp bão, ba ông phải lưu lại và có dịp tìm hiểu kỹ thuật làm gốm. Sau khi về nước, mỗi người truyền nghề cho một vùng. Trong đó, ông Đào Trí Tiến truyền nghề cho người dân Thổ Hà, còn ông Lưu Phong Tú có công truyền dạy nghề gốm cho người dân Phù Lãng. Ghi nhớ công ơn tiền nhân, hằng năm, vào ngày mùng 7 tháng Giêng, người dân Phù Lãng tổ chức lễ hội, dâng hương tưởng niệm vị tổ nghề đã đem đến nghề nghiệp và sinh kế cho cộng đồng. Trải qua nhiều thế hệ, tín ngưỡng thờ tổ nghề vẫn gắn bó mật thiết với đời sống sản xuất, từ khâu chọn đất, tạo hình đến tráng men, nung gốm...
Trong đời sống hiện đại, khi thị trường mở rộng, công nghệ sản xuất không ngừng đổi mới, tín ngưỡng thờ tổ nghề vẫn luôn là điểm tựa tinh thần, nhắc nhở các thế hệ về công lao tiền nhân và gửi gắm những giá trị cốt lõi về chữ tâm, chữ tín cũng như trách nhiệm với từng sản phẩm. Đó cũng là động lực để người thợ thủ công không ngừng sáng tạo, thích ứng với thời cuộc mà không quên cội nguồn.
