Tối ưu hóa chuỗi giá trị tài nguyên từ phân loại rác tại nguồn trong kỷ nguyên điện rác

Nhà máy điện rác giải quyết hiệu quả bài toán xử lý khối lượng lớn chất thải, giảm chôn lấp và thu hồi một phần năng lượng.

Khi thành công của điện rác đặt ra một câu hỏi mới

Hà Nội đang bước vào một giai đoạn mới trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt. Sau nhiều năm chịu áp lực từ chôn lấp và quá tải bãi rác, năng lực xử lý bằng công nghệ đốt phát điện đã tăng mạnh. Tính đến hết tháng 6/2026, khoảng 83% chất thải rắn sinh hoạt của Thành phố được xử lý bằng công nghệ đốt phát điện, trong khi tỷ lệ chôn lấp còn khoảng 17% [1].

Với các nhà máy điện rác quy mô lớn tại Sóc Sơn và Xuân Sơn, Hà Nội đã giảm đáng kể sự phụ thuộc vào chôn lấp, đồng thời hiện đại hóa hạ tầng xử lý chất thải. Tuy nhiên, chính thành công đó lại đặt ra một câu hỏi mới là nếu phần lớn rác có thể được đưa vào nhà máy đốt để phát điện, liệu các hộ gia đình còn cần phân loại tại nguồn hay không? Câu trả lời là có. Lý do không chỉ nằm ở việc “xử lý rác dễ hơn”, mà sâu xa hơn, phân loại là điểm khởi đầu để phân bổ các dòng vật chất vào đúng chuỗi giá trị, qua đó tối ưu hóa toàn bộ hệ thống.

Hình 1 dưới đây khái quát luận điểm của bài viết là phân loại tại nguồn quyết định đường đi của vật chất, còn điện rác tối ưu hóa phần rác còn lại.

Hình 1. Phân loại tại nguồn là gốc của tối ưu hóa hệ thống và chuỗi giá trị rác. Nguồn: Tác giả thiết kế hình với sự hỗ trợ của ChatGPT.

Hình 1. Phân loại tại nguồn là gốc của tối ưu hóa hệ thống và chuỗi giá trị rác. Nguồn: Tác giả thiết kế hình với sự hỗ trợ của ChatGPT.

Như Hình 1 cho thấy, phân loại tại nguồn tạo ra bốn dòng xử lý chủ yếu: tái sử dụng/tái chế, chất thải thực phẩm/hữu cơ, chất thải nguy hại hộ gia đình và rác còn lại. Trong cấu trúc này, điện rác là mắt xích quan trọng đối với phần rác còn lại; tuy nhiên, sự tối ưu của toàn hệ thống chỉ hình thành khi các dòng vật chất được tách đúng ngay từ đầu nguồn.

Có khả năng đốt không có nghĩa mọi loại rác đều nên được đốt

Nhà máy điện rác giải quyết hiệu quả bài toán xử lý khối lượng lớn chất thải, giảm chôn lấp và thu hồi một phần năng lượng. Nhưng một tấn rác sinh hoạt không phải là một loại vật chất đồng nhất. Trong đó có giấy, nhựa, kim loại, thủy tinh, thực phẩm, pin, thiết bị điện tử nhỏ, vật liệu khó tái chế và nhiều thành phần khác. Giá trị kinh tế, tác động môi trường và phương thức xử lý phù hợp của từng loại vì thế hoàn toàn khác nhau.

Ví dụ, một chai nhựa PET sạch có thể trở thành nguyên liệu thứ cấp cho một chu kỳ sản xuất mới. Lon nhôm có giá trị tái chế cao. Chất thải thực phẩm có thể được xử lý sinh học nếu có hệ thống phù hợp. Pin và một số chất thải nguy hại hộ gia đình cần được thu gom riêng.

Ngược lại, nhiều loại nhựa bẩn, vật liệu composite, giấy nhiễm bẩn hoặc phần rác không còn khả năng tái chế hợp lý lại thích hợp hơn với đốt thu hồi năng lượng. Vì vậy, câu hỏi đúng không phải là “rác có đốt được hay không?”, mà là “đối với từng loại rác, phương án nào tạo ra giá trị kinh tế, môi trường và xã hội cao nhất?”

Nhật Bản: Đốt nhiều nhưng vẫn phân loại kỷ luật

Chúng ta lấy Nhật Bản là một trường hợp tham khảo hữu ích để nhìn lại vấn đề này. Theo Bộ Môi trường Nhật Bản, trong năm tài khóa 2024, nước này phát sinh 38,11 triệu tấn rác đô thị, tỷ lệ tái chế đạt 19,3%; đến cuối năm tài khóa có 991 nhà máy đốt, trong đó 710 cơ sở tận dụng nhiệt và 415 cơ sở có phát điện [2]. Tuy nhiên, năng lực đốt rất lớn không khiến Nhật Bản từ bỏ phân loại tại nguồn: năm tài khóa 2024, 99,0% số chính quyền địa phương (municipalities) thực hiện thu gom riêng chai PET và các nhóm chai thủy tinh đạt tỷ lệ từ 95,1% đến 97,4% [3]. Điểm cốt lõi nằm ở thứ tự ưu tiên của quản lý tài nguyên: phòng ngừa, giảm phát sinh, tái sử dụng, tái chế vật liệu, sau đó mới đến thu hồi năng lượng và thải bỏ. Cách tiếp cận này phù hợp với nguyên tắc “waste hierarchy” và tư duy kinh tế tuần hoàn mà UNEP nhấn mạnh: chất thải cần được coi là một dòng tài nguyên có thể giữ lại giá trị, thay vì chỉ là đối tượng phải tiêu hủy [4]. Thu hồi năng lượng bằng đốt vì thế không thay thế tái sử dụng và tái chế; nó chỉ xử lý phần còn lại sau khi các dòng vật chất có giá trị đã được tách ở mức hợp lý. Nói cách khác, phân loại ở Nhật không xuất phát từ thiếu năng lực đốt, mà nhằm xác định những dòng vật chất nên được giữ lại trước khi phần còn lại đi vào thu hồi năng lượng.

Phân loại tại nguồn là “cửa phân luồng” của chuỗi giá trị

Chúng ta thường xem phân loại tại nguồn như một hành vi môi trường của người dân. Cách nhìn này đúng nhưng chưa đủ. Về bản chất kinh tế, đây là cơ chế phân bổ tài nguyên đầu tiên của chuỗi chất thải. Khi chai nhựa, lon kim loại, thức ăn thừa hay viên pin được tách khỏi rác hỗn hợp, chúng bắt đầu đi vào những “đường giá trị” khác nhau. Chất thải tái chế có thể đi vào chuỗi vật liệu thứ cấp; chất thải hữu cơ phù hợp có thể đi vào compost, biogas hoặc xử lý sinh học; chất thải nguy hại hộ gia đình đi vào hệ thống chuyên biệt; còn phần không còn giá trị thu hồi hợp lý mới đi vào thu hồi năng lượng.

Nếu không phân luồng từ đầu, vật liệu dễ bị nhiễm bẩn, chi phí tách tăng lên và giá trị tái chế suy giảm. Khi đó, điện rác dễ trở thành đích đến mặc định và chuỗi giá trị vật liệu bị rút ngắn. Vì vậy, phân loại không nên được coi đơn thuần là một công đoạn trước xử lý. Nó là “cửa phân luồng” quyết định cấu trúc giá trị của toàn hệ thống.

Điện rác giải quyết tốt phần cuối của chuỗi; phân loại tại nguồn quyết định phần đầu của chuỗi đi theo hướng nào. Hai công cụ vì thế bổ sung cho nhau, chứ không thay thế nhau. Bảng 1 cho thấy những vật liệu có giá trị tái chế cần được giữ khỏi dòng rác hỗn hợp; chất hữu cơ sạch có giá trị sinh học; còn điện rác phù hợp nhất với phần rác còn lại khó tái sử dụng hoặc tái chế [5–9].

Bảng 1. Thành phần chính, giá trị tài nguyên và phân nhóm pháp lý của chất thải rắn sinh hoạt hộ gia đình tại Hà Nội

Ghi chú: Tỷ lệ khối lượng từ 110 hộ Hà Nội của Phuong et al. (2021) [5], mang tính tham khảo; World Bank (2018) ước tính hữu cơ 51,9% [10], cho thấy cơ cấu có thể biến động. Phân nhóm theo Quyết định 87/2025/QĐ-UBND [11]; ✓* biểu thị trường hợp phụ thuộc mức độ nhiễm bẩn, đặc tính nguy hại hoặc khả năng thu hồi thực tế.

Chuyển cách tiếp cận từ “xử lý rác” sang “tối ưu hóa hệ thống”

Trong nhiều năm, ưu tiên hợp lý của Hà Nội là giải quyết sự thiếu hụt năng lực xử lý và giảm phụ thuộc vào chôn lấp. Khi điểm nghẽn này đang dần được tháo gỡ, chính sách cần chuyển sang bài toán thế hệ thứ hai: không chỉ xử lý hết rác, mà còn phân bổ từng dòng rác vào phương án tạo ra tổng giá trị kinh tế – môi trường – xã hội cao nhất.

Định hướng hiện hành của Hà Nội cũng phản ánh cách tiếp cận này. Kế hoạch số 52/KH-UBND ngày 6/2/2026 đặt đồng thời mục tiêu 100% phường, xã tổ chức phân loại rác sinh hoạt tại hộ gia đình, cá nhân và hướng tới năm 2030, 100% chất thải rắn sinh hoạt đưa tới các khu xử lý tập trung được xử lý bằng đốt phát điện hoặc công nghệ tiên tiến [12]. Hai mục tiêu xuất hiện cùng nhau cho thấy phân loại và điện rác thuộc cùng một kiến trúc quản lý, chứ không phải hai lựa chọn loại trừ nhau.

Khung pháp lý hiện hành còn cụ thể hơn. Điều 75 Luật Bảo vệ môi trường quy định ba nhóm cơ bản: chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế; chất thải thực phẩm; và chất thải rắn sinh hoạt khác [13]. Riêng Hà Nội, Quyết định 87/2025/QĐ-UBND, có hiệu lực từ ngày 8/1/2026, cụ thể hóa nhóm tái chế (giấy, nhựa, kim loại, thủy tinh, vải/da, gỗ, cao su, thiết bị điện - điện tử), nhóm thực phẩm và nhóm “khác”, trong đó tách rõ rác cồng kềnh, chất thải nguy hại phát sinh trong sinh hoạt và phần còn lại. Vì vậy, vấn đề hiện nay không chỉ là “có phân loại hay không”, mà là tổ chức phân loại như thế nào để tạo giá trị thực và phù hợp với hạ tầng xử lý.

Không nhất thiết càng phân loại nhiều càng tốt

Có một điểm đáng chú ý là Hà Nội có thể học hỏi từ mô hình của Nhật Bản nhưng không nhất thiết phải yêu cầu người dân phân thành hàng chục nhóm rác. Phân loại cũng có chi phí, ví dụ như thời gian của hộ gia đình, thùng chứa, xe thu gom riêng, điểm trung chuyển, nhân lực, cơ sở tái chế và thị trường đầu ra. Nếu chi phí tách một loại vật liệu cao hơn giá trị kinh tế và môi trường có thể thu hồi, thì việc phân loại đó chưa chắc đã tối ưu.

Tương tự, nếu người dân phân loại nhưng xe thu gom lại trộn chung, hoặc các dòng rác cuối cùng vẫn đi đến cùng một điểm xử lý, niềm tin của người dân có thể suy giảm và chính sách khó bền vững.

Một chính sách phân loại tốt phải được thiết kế đồng bộ từ hộ gia đình, thu gom, vận chuyển, trung chuyển và xử lý cho tới thị trường tiêu thụ nguyên liệu tái chế. Do đó, mục tiêu không nên là “phân loại càng nhiều càng tốt”, mà phải là “phân loại vừa đủ, đúng loại và đúng chỗ để tối đa hóa giá trị toàn hệ thống”.

Đối với Hà Nội, một cấu trúc phân loại gọn, dễ tuân thủ và gắn trực tiếp với hạ tầng phía sau có thể hiệu quả hơn một hệ thống quá chi tiết nhưng thiếu khả năng thực thi.

Hàm ý chính sách cho Hà Nội

Từ những phân tích ở trên, bốn ưu tiên chính sách cho Hà Nội trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, cần xác định đúng vai trò của điện rác. Điện rác nên là giải pháp chủ lực đối với dòng chất thải còn lại sau các hoạt động giảm thiểu, tái sử dụng và thu hồi vật liệu khả thi, thay vì mặc định là đích đến của mọi loại chất thải sinh hoạt.

Thứ hai, phải thiết kế phân loại theo chuỗi từ đầu đến cuối. Một dòng rác đã được phân loại tại hộ phải tiếp tục được thu gom riêng, vận chuyển phù hợp và có đầu ra xử lý hoặc tái chế tương ứng. “Phân loại rồi trộn lại” không chỉ làm mất hiệu quả kỹ thuật mà còn phá vỡ niềm tin và động lực tham gia của cộng đồng.

Thứ ba, nên ưu tiên các dòng rác có giá trị biên lớn. Vật liệu tái chế sạch, kim loại, một số loại nhựa và giấy, chất thải nguy hại hộ gia đình và các dòng hữu cơ có đầu ra ổn định nên được ưu tiên trước. Phạm vi phân loại có thể được mở rộng khi hạ tầng, công nghệ và thị trường đã sẵn sàng. Các trạm phân loại trung gian và cơ sở thu hồi vật liệu cũng cần được phát triển để không đẩy toàn bộ độ phức tạp sang hộ gia đình. Nghiên cứu tại Hà Nội cho thấy người thu mua phế liệu đã thu hồi lượng vật liệu tương đương khoảng 8,8% tổng khối lượng chất thải hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu, cho thấy khu vực phi chính thức vẫn là một mắt xích đáng chú ý trong chuỗi giá trị vật liệu [14].

Thứ tư, cần thay đổi thước đo thành công. Nếu chỉ đánh giá bằng tỷ lệ rác được thu gom hoặc tỷ lệ rác được đốt, chúng ta mới đo được năng lực xử lý. Một hệ thống hiện đại cần thêm các chỉ số như tỷ lệ vật liệu được thu hồi, giá trị tài nguyên thu hồi trên một tấn rác, tỷ lệ rác còn lại phải đốt, tỷ lệ chôn lấp cuối cùng và tổng chi phí xã hội trên một đơn vị chất thải.

Kết luận

Thành công của các nhà máy điện rác mang lại cho Hà Nội cơ hội chuyển cuộc thảo luận từ “làm sao xử lý hết rác” sang “làm sao thu được giá trị cao nhất từ những vật chất đang bị gọi là rác”.

Trong cách tiếp cận này, phân loại, tái chế và điện rác không cạnh tranh với nhau: phân loại quyết định dòng vật chất; tái chế giữ vật liệu trong nền kinh tế; điện rác thu hồi năng lượng từ phần không còn khả năng tuần hoàn hợp lý; còn chôn lấp dành cho phần cuối cùng không thể thu hồi hợp lý. Mục tiêu của Hà Nội không nên là tối đa hóa tỷ lệ phân loại hay tỷ lệ đốt, mà là tối đa hóa tổng giá trị ròng của hệ thống.

Nhật Bản cho thấy một quốc gia có năng lực đốt rác rất mạnh vẫn cần phân loại nghiêm túc. Nhà máy điện rác chỉ xử lý hiệu quả những gì được đưa vào; để quyết định thứ gì thực sự nên đi vào lò đốt, hệ thống vẫn cần phân loại. Đây có thể là bước chuyển tiếp quan trọng tiếp theo của Hà Nội.

Khi sự thiếu hụt năng lực xử lý đang dần được giải quyết, trọng tâm quản trị cần chuyển từ “xử lý rác” sang “tối ưu giá trị tài nguyên rác”. Thước đo của một hệ thống hiện đại không nên chỉ là nó đốt được bao nhiêu rác, mà còn là sau khi đã giảm thiểu, tái sử dụng và thu hồi những giá trị có thể giữ lại, còn bao nhiêu rác thực sự cần phải đốt.

Khúc Văn Quý

Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài liệu tham khảo

[1]      Nguyễn Thúy, Hà Nội tập trung giải quyết điểm nghẽn về chất thải rắn, (2026). https://khuyennonghanoi.gov.vn/Pages/ha-noi-tap-trung-giai-quyet-diem-nghen-ve-chat-thai-ran.aspx.

[2]      Ministry of the Environment, Japan, Municipal solid waste generation and disposal in FY2024, (2026).

[3]      Ministry of the Environment, Japan, Results of separate collection by municipalities under the Containers and Packaging Recycling Act in FY2024, (2026).

[4]      United Nations Environment Programme, Global Waste Management Outlook 2024: Beyond an Age of Waste - Turning Rubbish into a Resource, (2024).

[5]      N.T.L. Phuong, H. Yabar, T. Mizunoya, Characterization and Analysis of Household Solid Waste Composition to Identify the Optimal Waste Management Method: A Case Study in Hanoi City, Vietnam, Earth 2(4) (2021) 1046–1058. https://doi.org/10.3390/earth2040062.

[6]      A.A. Pilarska, T. Kulupa, A. Kubiak, A. Wolna-Maruwka, K. Pilarski, A. Niewiadomska, Anaerobic Digestion of Food Waste—A Short Review, Energies 16(15) (2023) 5742. https://doi.org/10.3390/en16155742.

[7]      U.S. Environmental Protection Agency, Documentation for Greenhouse Gas Emission and Energy Factors Used in the Waste Reduction Model (WARM), Version 16 - Management Practices, (2023).

[8]      J.P. Juanga-Labayen, I.V. Labayen, Q. Yuan, A Review on Textile Recycling Practices and Challenges, Textiles 2(1) (2022) 174–188. https://doi.org/10.3390/textiles2010010.

[9]      ITU & UNITAR, The Global E-waste Monitor 2024, (2024).

[10]    World Bank, Solid and Industrial Hazardous Waste Management Assessment: Options and Action Areas to Implement the National Strategy, (2018).

[11]    UBND Thành phố Hà Nội, Quyết định số 87/2025/QĐ-UBND ngày 29/12/2025 quy định việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội, hiệu lực từ 8/1/2026, (2025).

[12]    UBND Thành phố Hà Nội, Kế hoạch số 52/KH-UBND ngày 06/02/2026 về giảm thiểu phát sinh, phân loại, thu gom, xử lý rác thải vì Thủ đô Sáng - Xanh - Sạch - Đẹp, (2026).

[13]    Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất số 15/VBHN-VPQH ngày 24/02/2025 hợp nhất Luật Bảo vệ môi trường, Điều 75, (2025).

[14]    K. Kawai, M. Osako, S. Matsui, N.T. Dong, Identification of junk buyers’ contribution to recycling of household waste in Hanoi, Vietnam, through a physical composition analysis, Waste Manag. Res. 30(7) (2012) 681–688. https://doi.org/10.1177/0734242X12444895.

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/toi-uu-hoa-chuoi-gia-tri-tai-nguyen-tu-phan-loai-rac-tai-nguon-trong-ky-nguyen-dien-rac-118202.html