TP.HCM áp dụng giá dịch vụ rác mới: Tạo động lực phân loại, giảm lượng chất thải

Từ ngày 1/9/2026, TP.HCM áp dụng quy định mới về giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt.

Không chỉ điều chỉnh cách tính giá theo từng khu vực, chính sách mới còn từng bước gắn chi phí với lượng rác phát sinh, qua đó tạo động lực phân loại rác tại nguồn và nâng cao hiệu quả quản lý chất thải đô thị.

UBND TP.HCM vừa ban hành quy định về giá cụ thể đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn. Quy định có hiệu lực từ ngày 1/9/2026 đến hết ngày 30/6/2027, thay thế các quy định trước đây của TP.HCM cũng như tại khu vực Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu cũ.

 UBND TP.HCM vừa ban hành quy định về giá cụ thể đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn.

UBND TP.HCM vừa ban hành quy định về giá cụ thể đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn.

Việc ban hành một cơ chế giá thống nhất được xem là bước điều chỉnh cần thiết sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, trong bối cảnh phạm vi quản lý của thành phố mở rộng và điều kiện thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải giữa các khu vực có sự khác biệt.

Theo quy định mới, toàn địa bàn TP.HCM được chia thành 8 nhóm khu vực để xác định giá dịch vụ. Trong đó, nhóm 1 gồm các phường thuộc khu vực đô thị trung tâm và nhiều địa bàn nội thành; nhóm 2 và nhóm 3 gồm các xã thuộc Hóc Môn, Nhà Bè, Cần Giờ, Củ Chi, Bình Chánh.

Các địa bàn thuộc Bình Dương cũ được bố trí vào nhóm 4 và nhóm 5, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu cũ thuộc nhóm 6 và nhóm 7, trong khi đặc khu Côn Đảo được xếp vào nhóm 8.

Việc phân nhóm cho phép thành phố xây dựng mức giá phù hợp hơn với điều kiện thực tế của từng địa bàn, thay vì áp dụng một mức đồng nhất trên phạm vi rộng.

Giá dịch vụ từng bước gắn với lượng rác phát sinh

Đối với cá nhân, hộ gia đình và các chủ nguồn thải nhỏ lựa chọn phương thức quản lý chất thải tương tự hộ gia đình, giá dịch vụ được xác định dựa trên khu vực và số nhân khẩu trong trường hợp chưa thực hiện phân loại rác tại nguồn hoặc phân loại chưa đúng quy định.

Tại nhóm 1, hộ gia đình có từ 2 người trở xuống phải trả 31.000 đồng/tháng cho dịch vụ thu gom và 11.000 đồng/tháng cho vận chuyển, tổng cộng 42.000 đồng/tháng. Hộ có từ 3 người trở lên có mức tương ứng là 61.000 đồng và 23.000 đồng, tức tổng cộng 84.000 đồng/tháng.

Trong khi đó, tại nhóm 8, mức giá thấp hơn. Hộ có tối đa 2 người trả 19.000 đồng/tháng cho thu gom và 8.000 đồng cho vận chuyển. Với hộ từ 3 người trở lên, hai mức tương ứng là 38.000 đồng và 15.000 đồng/tháng.

Đối với chủ nguồn thải nhỏ, chi phí được xác định theo các ngưỡng lượng chất thải phát sinh. Tại nhóm 1, nguồn thải không quá 126 kg/tháng chịu giá thu gom 61.000 đồng và vận chuyển 23.000 đồng/tháng. Với lượng rác trên 500 kg đến dưới 9.000 kg/tháng, mức giá được tính trực tiếp theo khối lượng, với giá thu gom 486 đồng/kg và vận chuyển 180 đồng/kg.

Một điểm đáng chú ý là những trường hợp thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn đúng quy định sẽ được áp dụng cách tính theo khối lượng. Giá thu gom dao động từ 453-486 đồng/kg tùy từng nhóm khu vực, còn giá vận chuyển từ 147-180 đồng/kg. Các mức giá này chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.

Cách tiếp cận này cho thấy sự chuyển dịch từ cơ chế thu tương đối cố định sang nguyên tắc gắn trách nhiệm tài chính với lượng chất thải phát sinh. Về dài hạn, đây có thể trở thành công cụ kinh tế thúc đẩy các hộ gia đình và chủ nguồn thải quan tâm hơn đến việc phân loại, tái sử dụng và giảm lượng rác cần chuyển giao cho hệ thống xử lý.

Trong giai đoạn hiện nay, thành phố chưa thu giá dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt đối với cá nhân, hộ gia đình và chủ nguồn thải nhỏ lựa chọn hình thức quản lý tương tự hộ gia đình. Khoản này chỉ được thực hiện khi UBND TP.HCM ban hành quyết định sửa đổi hoặc thay thế quy định hiện hành.

Đối với chủ nguồn thải lớn và các chủ nguồn thải nhỏ lựa chọn hình thức quản lý tương tự nguồn thải lớn, nguyên tắc là tính đúng, tính đủ chi phí của cả ba công đoạn gồm thu gom, vận chuyển và xử lý.

Giá xử lý tại nhóm 1, 2 và 3 là 421 đồng/kg; nhóm 4 và 5 là 498 đồng/kg; nhóm 6, 7 và 8 áp dụng mức 398 đồng/kg.

Số hóa quản lý rác, tăng minh bạch trong thu và chi

Cùng với thay đổi cơ chế giá, quy định mới đặt ra yêu cầu tăng cường quản lý dữ liệu đối với hoạt động thu gom và xử lý chất thải.

Khối lượng rác có thể được xác định thông qua cân hoặc thống kê số lượng, chủng loại và thể tích của các thiết bị chứa rác như túi, thùng chứa. Trường hợp quy đổi theo thể tích, 1 m³ rác được xác định tương đương khoảng 420 kg hoặc thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành khác.

Đối với các dự án, chợ, trung tâm thương mại, cao ốc, chung cư và nhà trọ thuộc nhóm nguồn thải lớn, chính quyền cấp xã có trách nhiệm phối hợp với chủ thể liên quan và đơn vị cung ứng dịch vụ để thống nhất phương thức thu phù hợp.

Địa phương đồng thời phải rà soát, điều tra và cập nhật số lượng hộ gia đình, cá nhân, chủ nguồn thải cũng như lượng chất thải phát sinh. Cơ sở dữ liệu này sẽ phục vụ việc lập dự toán, tổ chức thu, kiểm tra và giám sát hoạt động quản lý chất thải trên địa bàn.

Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM được giao phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, chính quyền cấp xã và các đơn vị liên quan nghiên cứu xây dựng phần mềm quản lý, kiểm soát việc thu và nộp giá dịch vụ thống nhất trên toàn thành phố.

TP.HCM cũng khuyến khích thanh toán giá dịch vụ thông qua ứng dụng và các nền tảng thanh toán điện tử thay cho tiền mặt. Việc số hóa dòng tiền, nếu được triển khai đồng bộ với dữ liệu nguồn thải, có thể giúp quá trình thu phí thuận tiện hơn, đồng thời tăng khả năng kiểm tra và minh bạch hóa hoạt động quản lý.

Theo quy định, UBND cấp xã được giữ lại tối đa 8% tổng số tiền thu từ giá dịch vụ vận chuyển, xử lý để phục vụ điều tra, thống kê, kiểm tra, giám sát, quản lý và chi phí thu hộ. Định kỳ 6 tháng, các địa phương phải báo cáo tình hình thu, chi để cơ quan chuyên môn xem xét và tham mưu UBND thành phố điều chỉnh khi cần thiết.

Trong bối cảnh một đô thị quy mô lớn phải đối mặt với áp lực ngày càng tăng từ chất thải sinh hoạt, thay đổi cơ chế giá không đơn thuần là câu chuyện tăng hay giảm một khoản chi của người dân. Quan trọng hơn là từng bước hình thành nguyên tắc người phát sinh chất thải phải có trách nhiệm tương ứng với lượng chất thải tạo ra.

Khi cơ chế giá được kết hợp với phân loại tại nguồn, dữ liệu về lượng rác và công nghệ quản lý, chất thải có thể được nhìn nhận không chỉ là gánh nặng cần ngân sách xử lý mà còn là một dòng vật chất cần được quản trị hiệu quả. Đây cũng là nền tảng để thúc đẩy giảm phát sinh, tái sử dụng, tái chế và từng bước chuyển từ mô hình quản lý rác truyền thống sang quản lý tài nguyên theo định hướng kinh tế tuần hoàn.

Thúy Quỳnh

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/tphcm-ap-dung-gia-dich-vu-rac-moi-tao-dong-luc-phan-loai-giam-luong-chat-thai-117845.html