Trái bầu - 'tủ lạnh' tự nhiên của người bản địa Tây Nguyên
Thuở xa xưa - khi chiếc tủ lạnh chưa có mặt trên đất Tây Nguyên - người bản địa nơi đây đã biết tri nhận công năng làm mát nước tuyệt hay của trái bầu khô để rồi lấy nó chế tác thành đồ đựng nước - phục vụ nhu cầu giải thân nhiệt trong những lúc lao động ở rẫy và sinh hoạt thường ngày.
Trái bầu khô được cư dân bản địa Tây Nguyên ví như chiếc tủ lạnh mini tự nhiên - một vật phẩm vừa mang hơi người (để trái bầu khô trở thành đồ đựng nước nhất thiết phải đi qua đôi bàn tay chế tác của con người), vừa có hơi rừng (bầu trồng trên rẫy và rẫy là một phần của rừng).

Vỏ trái bầu khô làm vật trang trí và là quà lưu niệm cho du khách khi đến Tây Nguyên
1. Rẫy của người bản địa Tây Nguyên thường trồng đa cây. Bầu sau khi trồng thì để lớn tự nhiên trên rẫy cùng nhiều loại cây khác. Mặc dù là loại cây thân leo nhưng cư dân bản địa Tây Nguyên không làm giàn cho bầu quấn dây leo lên giàn. Cây bầu được thả tự do và mặc sức lan rộng ra trên bề mặt đất. Trái bầu lúc còn non, người bản địa Tây Nguyên dùng làm nguyên liệu để nấu canh với cá, tôm, cua. Đọt bầu và lá bầu non thì sử dụng cho việc chế biến món bầu dầm ớt chín và sả... Bầu là món ăn quen thuộc của cư dân bản địa Tây Nguyên. Trái bầu già, một số ít để lấy hạt làm giống, số còn lại thì phơi khô và loại bỏ ruột sử dụng cho việc chế tác các đồ đựng (nước, rượu, hạt giống, muối, k’nàp...) phục vụ đời sống hàng ngày của con người. Trái bầu đựng nước là lễ vật thiêng người bản địa Tây Nguyên dâng lên Yàng trong các dịp lễ hội. Cư dân bản địa Tây Nguyên còn dùng vỏ bầu già khô làm vật liệu chế tác các loại nhạc cụ: k’buốt, đinh năm, tak tà, k’woa... “Vỏ trái bầu có đặc tính nhẹ, xốp, dai và vang... - đó là lý do nó được người bản địa Tây Nguyên lựa chọn để làm hộp cộng âm của một số loại nhạc cụ như ting ning, r’kel, m’buốt...”, Nghệ nhân Ưu tú K’Brèm (xã Bảo Lâm 1) tâm sự.
Theo nhà Tây Nguyên học Linh Nga Niê Kđăm, người bản địa Tây Nguyên cũng đã dùng trái bầu vào việc... thử đất, kiểm tra độ màu mỡ hoặc độ hoang hóa của đất để đưa ra quyết định tiếp tục canh tác ở khoảnh rẫy cũ hay luân khoảnh sang một khoảnh rẫy mới. Người xưa đã quan sát những đường vân trên trái bầu tươi để qua đó đưa ra nhận định đất đã bị mệt hay đất còn hiền. Nếu đường vân trên trái bầu chạy liền mạch, nét vân rõ và đều... nghĩa là đất vẫn hiền nên tiếp tục canh tác các loại cây ở khoảnh rẫy cũ. Nếu đường vân trên trái bầu đứt đoạn, gãy khúc, chồng rối... nghĩa là đất đã bị mệt, đất cần được nghỉ và dân bon nên tìm một khoảnh rẫy mới để canh tác mùa vụ mới. “Thêm một cách thử đất nữa, người xưa lấy một nửa trái bầu khô, rồi úp nửa trái bầu khô đó xuống mặt đất và để qua đêm. Sáng sớm hôm sau, khi mở trái bầu, người quan sát nếu thấy bên trong trái bầu có hơi ấm, khí mát, không mùi lạ... nghĩa là đất vẫn còn sống - tiếp tục canh tác các loại cây ở khoảnh rẫy cũ. Nếu người quan sát mở trái bầu ra vào sáng sớm hôm sau và thấy bên trong trái bầu có mùi gắt, khí khô hoặc khí hắc... nghĩa là khoảnh rẫy đó không nên tiếp tục gieo trồng”, nhà Tây Nguyên học Linh Nga Niê K’đăm chia sẻ.

Vỏ trái bầu khô dùng làm chõ đồ xôi của người Ê Đê
2. Nhà sưu tập hiện vật văn hóa Tây Nguyên Đặng Minh Tâm (phường Xuân Hương - Đà Lạt) nói: “Trước đây, nhà nào treo nhiều trái bầu khô trên vách nhà thường được xem là nhà biết lo xa, sống có nền nếp, hay lam hay làm. Tất nhiên, nhà ấy cũng thuộc hàng kinh tế khá giả trong làng”. Bên cạnh là chỉ dấu nói lên sự giàu - nghèo của gia chủ, trái bầu còn là biểu tượng cho sự gắn kết cộng đồng các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam. Truyện cổ của người Ê đê - một sắc tộc bản địa Tây Nguyên, kể rằng các tộc người trên đất nước Việt Nam đều có chung một nguồn gốc, từ trái bầu mẹ. Theo nhạc sĩ Y Phôn K’Sơr, tỉnh Đắk Lắk - những nhạc cụ truyền thống của cư dân bản địa Tây Nguyên chế tác từ vỏ trái bầu khô không phải để “nghe” mà để “mở” - mở không gian, mở đường cho Yàng, mở nghi lễ, mở rộng cộng đồng... “Nghe” là phái sinh. “Mở” là nguyên sinh. Âm thanh của các loại nhạc cụ chế tác từ vỏ trái bầu khô vì thế không đi thẳng vào tai như âm thanh cồng chiêng. Nó tỏa lan ra không gian. Âm thanh của các loại nhạc cụ chế tác từ vỏ trái bầu khô thường “đi” trước âm thanh của cồng chiêng để mở cửa, mở ra con đường cho Yàng và con người. Nhà sưu tập hiện vật văn hóa Tây Nguyên Đặng Minh Tâm nói thêm: “Trái bầu đã đi vào đời sống tinh thần của người bản địa Tây Nguyên với tư cách là một vật thiêng, một lời nhắc nhớ về cội nguồn”. Ông K’Brít (xã Hòa Ninh) thì xác quyết, chỉ khi lao động ở rẫy, giữa cái nắng đanh đặc trưng Tây Nguyên, miệng đắng khô vì khát, quờ tay lấy vội trái bầu khô đựng nước, ngửa cổ tu một hơi nước thật dài, nước chảy đến đâu mát rượi tới đó, mọi người sẽ thấy tri thức bản địa là thứ... không có ở trong sách. Nó phải được trả giá bằng thực tế đời sống lao động, bằng sự lắng nghe thiên nhiên, bằng tri giác bén nhạy.












