Trận chiến địa chiến lược về thương mại: Liệu có giải pháp?

Trong bài viết trước đây trên Kinh tế Sài Gòn(*) tôi đã bàn về mặt lý thuyết kinh tế liên quan đến chủ trương thương mại tự do toàn diện. Adam Smith và Richard Ricardo cho rằng với tự do thương mại toàn diện, ai hay nước nào sản xuất tuyệt đối hay tương đối rẻ hơn thì nên tập trung sản xuất sản phẩm đó và mua hàng khác đắt hơn từ nước khác, rằng thị trường sẽ tự động điều chỉnh thông qua giá hay tỷ giá hối đoái để lao động và nguyên liệu được toàn dụng, có lợi cho mọi người. Ralf Gomorey và William Baumol đã bác bỏ tự do thương mại toàn diện về mặt lý thuyết và trước đó John M. Keynes cũng bác bỏ nó về mặt thực tiễn. Không có cái gọi là tự điều chỉnh!

Lịch sử nước Mỹ và chính sách ngoại thương

Nước Mỹ đã trải qua ba thời kỳ phát triển mà mỗi thời kỳ lại thực hiện chính sách ngoại thương khác nhau (bảng 1).

Thời kỳ 1 (1820-1870) cán cân thương mại âm

Thời kỳ cán cân thương mại âm này kéo dài 50 năm sau lập quốc, mà ngay từ đầu Alexander Hamilton, người sáng lập nước Mỹ và là Bộ trưởng Tài chính đầu tiên, chủ trương bảo vệ thị trường nội địa để phát triển công nghiệp. Mỹ năm 1828 và 1832 áp dụng thuế nhập khẩu 40-60% vào hàng công nghiệp, trong đó có vải và sợi. Và đây cũng là một lý do gây chia rẽ Nam - Bắc, miền Nam muốn xuất khẩu bông sợi cung cấp cho Anh còn miền Bắc muốn phát triển công nghiệp dệt may. Chính sách bảo vệ mậu dịch đã giúp nước Mỹ thành cường quốc công nghiệp.

Thời kỳ 2 (1870-1970) cán cân thương mại thường thặng dư

Thời kỳ 2 (1870-1970) cán cân thương mại thường thặng dư

Thời kỳ thặng dư này dài và có thể chia làm những thời kỳ nhỏ hơn như sau.

Thứ nhất là thời hoàng kim (The Gilded Age: 1870-1900)

Đây là thời kỳ huy hoàng của Mỹ, đưa Mỹ thành cường quốc với công nghiệp nặng (sắt thép và đường xe lửa) phát triển mạnh cùng với thuế nhập khẩu cao. Thuế quan trung bình lên tới 30%, để bảo vệ thị trường nội địa, phát triển công nghệ và xuất khẩu (trừ thời gian ngắn từ 1913-1920 khi Đảng Cộng hòa nắm quyền trở lại với Tổng thống Harding, rồi Hoover). Sau đó, thông thường thuế nhập khẩu là 15% nhưng luật cho phép Tổng thống tăng thuế nhập khẩu lên 50% khi cần. Phản ứng tăng thuế của châu Âu cũng là yếu tố làm giảm thương mại thế giới 66%, đưa đến khủng hoảng kinh tế năm 1933.

Thứ hai là thời Thế chiến thứ 2 (1939-1945)

Thế chiến tất nhiên có hại cho toàn thế giới, nhưng do nằm ngoài châu Âu và không bị tàn phá, Mỹ đã có thể vận động toàn diện nền kinh tế nhằm phục vụ chiến tranh, GDP tăng trung bình 13% một năm nếu không kể năm 1945 là năm chiến tranh chấm dứt.

Thứ ba là thời hậu chiến vàng son sau Thế chiến thứ 2 (Post-War Golden Age:1945-1970)

Đây là thời kỳ Mỹ có cán cân thương mại vượt trội chưa từng có bởi vì phần lớn năng lực sản xuất công nghiệp ở châu Âu và Nhật Bản bị phá hủy, khiến Mỹ trở thành nhà cung cấp hàng hóa sản xuất chính trên toàn cầu. Sau Thế chiến thứ 2, các nước được Mỹ viện trợ, cho vay để mua hàng Mỹ. Thời thặng dư cán cân thương mại xuất nhập hàng hóa và dịch vụ (current account) kéo dài từ năm 1946-1970.

Chính sách tập trung vào xuất khẩu để phát triển của Việt Nam, nhất là với lao động tay chân, giá rẻ, là không thể tiếp tục vì sẽ bị đối tác trừng phạt. Vì vậy, Việt Nam phải tập trung vào hệ thống giáo dục, nghiên cứu nhằm nâng cao năng suất lao động, và nhằm phục vụ nền kinh tế nội địa của mình là chính. Cả Nhật Bản rồi Hàn Quốc dựa vào xuất siêu để phát triển cũng đã chững lại, nhưng ở mức thu nhập cao, vì họ đã nhanh chóng tăng cường phát triển khoa học kỹ thuật.

Nhưng tới năm 1970, thặng dư giảm hẳn. Năm 1971 đánh dấu lần đầu cán cân hàng hóa âm (số liệu tính lại hiện nay là âm 0,4 tỉ đô la Mỹ nhưng lúc đương thời được tính là âm 1,5 tỉ đô la Mỹ) (bảng 2). Không những thế, cán cân thanh toán (current account) còn âm lớn hơn nhiều. Nó bao gồm không chỉ thanh toán thương mại mà còn gồm thêm chi thu với nước ngoài như lương, kiều hối, thuế, lợi nhuận, lãi, viện trợ... Ngoài ra, còn thêm dòng chảy tài chính với nước ngoài bao gồm thêm vay mượn, đầu tư, trả nợ, khiến cán cân thanh toán với nước ngoài (balance of payments) ước tính vào giữa năm là âm 20 tỉ đô và sau đó là âm 30 tỉ đô. Một con số quá lớn thời đó mà các nhà kinh tế cho rằng Mỹ không có đủ khả năng cho phép người nắm tiền chuyển ra vàng với giá cố định là 35 đô la Mỹ/ounce vàng. Nixon, năm 1971, phải quyết định bỏ cam kết bảo vệ giá trị đô la Mỹ bằng vàng. Hệ thống Bretton Woods sau Thế chiến thứ 2 nhằm ổn định giá trị trao đổi các đồng tiền bị xóa.

Thời kỳ 3 (1970-2025) cán cân thương mại âm

Thời vàng son với cán cân thương mại dương của Mỹ chấm dứt hoàn toàn vào những năm 1970 và bị âm kể từ đó đến nay, và ngày càng lớn, lên đến âm 3-4% GDP, vì những lý do sau:

Thứ nhất, chính sách tăng chuyển nhượng thu nhập cho dân nghèo để nâng cao đời sống và khuyến khích tiêu dùng từ chủ trương “xã hội vĩ đại” (Great Society) của Tổng thống L.B. Johnson. Chi tiêu của hộ gia đình, tỷ lệ chi tiêu dùng trên GDP tăng từ 60% những năm 1950 lên 68% GDP hiện nay. Tỷ lệ để dành của người dân Mỹ giảm dần, từ trên 12-13% thu nhập những năm 1980 xuống dần chỉ còn 4-5% những năm gần đây. Tỷ lệ để dành như thế quá thấp nếu so với tỷ lệ để dành rất cao của hộ gia đình Trung Quốc, trước đây gần 40% (2010) và hiện nay vẫn còn rất cao - ở mức 34,4% (năm 2025).

Thứ hai, tổng chi tiêu dùng và đầu tư đã cao hơn GDP ở mức 4-5% (cầu vượt cung) trong nhiều năm từ đầu những năm 1970, do đó tất nhiên phải dựa vào thâm hụt thương mại và vay nợ nước ngoài để tiêu. Dư thừa đô la Mỹ được ngân sách quốc gia mua lại, nợ chính phủ, nợ quốc gia đã bằng 123% GDP vào năm 2024. Lãi phải trả chiếm 15% chi ngân sách, cao hơn chi cho quốc phòng. Với lãi suất vay của chính phủ là 3,5% mà GDP chỉ tăng trên 2% một chút vào cuối những năm 2000 (bảng 3), ngân sách không đủ trả lãi và do đó nợ càng phình to.

Thứ ba, Mỹ chạy đua về lợi nhuận, tập trung vào công nghệ cấp cao với năng suất cao và lại cần ít lao động. Nhưng rồi khả năng đẩy năng suất cao lên nữa cũng chạm trần. Tốc độ tăng GDP hàng năm giảm dần từ trung bình 5-6% xuống chỉ còn khoảng trên 2% một chút (bảng 3). Để tăng tiêu dùng với giá rẻ, Mỹ phải nhập khẩu hàng hóa vì có lúc nghĩ rằng tự do thương mại với hàng hóa rẻ nhập khẩu từ nước ngoài có lợi. Cái hại ít thấy rõ hơn.

Thứ tư, với việc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được chính thức thành lập năm 1995, và với chủ trương tự do thương mại, và để cạnh tranh, Mỹ chuyển dịch sản xuất công nghiệp sử dụng nhiều lao động sang các quốc gia có chi phí lao động thấp như Hàn Quốc, Trung Quốc rồi Việt Nam, điều này đã làm rỗng dần số lao động công nghiệp ở Mỹ. Tỷ lệ lao động công nghiệp trong nền kinh tế đã giảm từ 30% xuống còn 8% hiện nay. Đây chính là nhóm lao động từng có lương đủ cao để tạo ra tầng lớp trung lưu ở Mỹ. Lao động còn lại hiện nay là lao động dịch vụ, có lương thấp và bấp bênh như dịch vụ buôn bán (18%), trợ giúp sức khỏe và giáo dục (17%), làm cho chính phủ (15%), ăn uống, du lịch (11%). Tầng lớp trung lưu ở Mỹ vì thế giảm. Thu nhập và tài sản của nước Mỹ ngày càng tập trung vào giới giàu có. Theo thống kê của Ngân hàng Dự trữ liên bang, vào năm 2025, 1% dân thuộc tầng lớp có thu nhập cao nhất (người thuộc tầng lớp này có thu nhập ít nhất 11 triệu đô la một năm) nắm 31% giá trị ròng tài sản hộ gia đình ở Mỹ, trị giá 52.000 tỉ đô (gần gấp đôi GDP), tăng từ mức 23% năm 1990; trong khi đó 10% dân giàu nắm 67% tài sản ròng, còn 50% dân có thu nhập thấp chỉ nắm 2,5% tài sản ròng.

Từ hiện tại nhìn về tương lai

WTO ra đời năm 1995, là tổ chức được Mỹ và các nước phương Tây chủ trương, có mục tiêu tự do thương mại với cả hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ, và có quy chế, cơ chế cụ thể để xử lý tranh chấp.

Với chính sách mở cửa gần như tự do với thương mại quốc tế, WTO quy định thuế nhập khẩu với từng loại sản phẩm không được vượt quá giới hạn cho phép, trừ liên quan đến an ninh quốc gia (bao gồm nguyên liệu, sản phẩm và công nghệ), và tạm thời miễn trừ khi quốc gia nào đó rơi vào khủng hoảng, hoặc thời hạn được “cơi nới” với các quốc gia phát triển thấp. Việc chấp nhận các nước ngoài luồng vào WTO rất khó khăn. Trung Quốc trở thành thành viên WTO năm 2001 sau 15 năm xem xét. Nga mới chỉ trở thành thành viên năm 2012 - gần 20 năm sau sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991. Việt Nam là thành viên năm 2007.

Với tự do thương mại trên cơ sở WTO, chỉ một thời gian ngắn, vai trò của Mỹ về kinh tế trên thị trường thế giới đã giảm hẳn. Có thể thấy GDP Trung Quốc, do tự do hóa, đã tăng vọt, từ chỗ chỉ chiếm 1% GDP thế giới những năm 1960 lên 17% hiện nay. Thị phần xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc cũng tăng vọt lên tới 16% thế giới. GDP của Mỹ giảm mạnh từ 40% GDP thế giới năm 1960 xuống 26% hiện nay. Thị phần xuất khẩu hàng hóa của Mỹ cũng giảm mạnh từ 16% xuống khoảng 8% (bảng 4 và 5). Mỹ đã trở thành nước nhập siêu lớn nhất thế giới suốt từ những năm 1970 đến nay.

Với số dân rất lớn và tiềm năng tăng năng suất lao động còn nhiều, việc Trung Quốc trở thành quốc gia có GDP lớn nhất thế giới chỉ còn là vấn đề thời gian. Trong một bài viết trước đây, tôi đã tiên đoán GDP của Trung Quốc sẽ bằng hoặc vượt Mỹ vào năm 2035 với giả thiết GDP Trung Quốc chỉ còn tăng 5% (chứ không phải 9-10%) một năm và GDP Mỹ tăng 2,5% một năm kể từ năm 2025.

Có thể thấy hiện trạng trên thế giới và đặc biệt ở châu Á là cuộc đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc. Trung Quốc là nước chủ soái xuất siêu, còn Mỹ là nước chủ soái nhập siêu.

Sự chuyển hướng địa chiến lược đã và đang diễn ra trên thế giới mà mọi người đều thấy. Điều này đã xuất hiện từ ngay thời Tổng thống Donald Trump nhiệm kỳ đầu (2017-2021), khi Mỹ không chịu thông qua các đề xuất thẩm phán cho cơ quan phúc thẩm WTO từ năm 2017 và do đó tước quyền quyết định của cơ quan này vì không đủ số lượng thẩm phán cần thiết để ra quyết định trong các vụ kiện vi phạm hiệp định WTO. Tổng thống kế nhiệm sau đó - Joe Biden - cũng tiếp tục chính sách này. Ông Biden còn tăng thuế nhập khẩu sắt và nhôm vào Mỹ lên 25-50% vì lý do an ninh quốc gia, không chỉ với Trung Quốc, mà còn với Thổ Nhĩ Kỳ, Na Uy và Thụy Sỹ, và bị WTO bác nhưng Mỹ lờ đi.

Chính sách tập trung vào xuất khẩu để phát triển của Việt Nam, nhất là với lao động tay chân, giá rẻ, là không thể tiếp tục vì sẽ bị đối tác trừng phạt. Vì vậy, Việt Nam phải tập trung vào hệ thống giáo dục, nghiên cứu nhằm nâng cao năng suất lao động, và nhằm phục vụ nền kinh tế nội địa của mình là chính. Cả Nhật Bản rồi Hàn Quốc dựa vào xuất siêu để phát triển cũng đã chững lại, nhưng ở mức thu nhập cao, vì họ đã nhanh chóng tăng cường phát triển khoa học kỹ thuật. Với số dân 100 triệu, Việt Nam đã có dân số cao hơn Hàn Quốc, gần bằng Nhật Bản, và vượt xa Anh, Pháp và cả Đức.

Với bất cứ một quốc gia nào, quan điểm phát triển phải là tổng xuất khẩu bằng tổng nhập khẩu, dù với từng đối tác có sự bất cân bằng, nhưng sự bất cân bằng với từng đối tác phải trên cơ sở thỏa thuận. Việt Nam hiện nay dựa quá nhiều vào xuất nhập khẩu, không những thế gần 70% xuất nhập khẩu là của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

(*) Thương mại quốc tế: thế giới thoái trào, Việt Nam là ngoại lệ, Kinh tế Sài Gòn, 3-9-2022

TS. Vũ Quang Việt

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/tran-chien-dia-chien-luoc-ve-thuong-mai-lieu-co-giai-phap/