Trận chiến Thái Nguyên 1950: Bản hùng ca Việt Bắc

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Thái Nguyên cùng một số tỉnh trong vùng Việt Bắc được Bác Hồ, Trung ương Đảng chọn làm căn cứ địa cách mạng (ATK)...

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Thái Nguyên cùng một số tỉnh trong vùng Việt Bắc được Bác Hồ, Trung ương Đảng chọn làm căn cứ địa cách mạng (ATK). Với quyết tâm bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan đầu não kháng chiến, quân và dân Thái Nguyên đã phối hợp với các đơn vị bộ đội chủ lực của Bộ và Liên khu Việt Bắc chiến đấu kiên cường, đập tan các cuộc tấn công của kẻ địch, trong đó có trận chiến năm 1950.

Khẩu hiệu địch vận tại tường dinh công sứ viết bằng tiếng Việt và tiếng Ả Rập.

Khẩu hiệu địch vận tại tường dinh công sứ viết bằng tiếng Việt và tiếng Ả Rập.

Từ cuối năm 1949 đến đầu năm 1950, tình hình quốc tế có nhiều thay đổi, ảnh hưởng thuận lợi đối với cách mạng Việt Nam. Hệ thống xã hội chủ nghĩa được mở rộng và nối liền từ Âu sang Á, tạo chỗ dựa vững chắc cho phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Ở Việt Nam, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên các mặt trận giành nhiều thắng lợi quan trọng. Sau chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, thế và lực của cách mạng nước ta được tăng cường. Các cơ sở kháng chiến hình thành rộng khắp. Lực lượng vũ trang ba thứ quân gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích được xây dựng và hình thành thế trận chiến tranh nhân dân. Trong các vùng bị địch tạm chiếm, phong trào đấu tranh của nhân dân phát triển mạnh mẽ, nhất là ở các thành phố, thị xã.
Bên cạnh những thuận lợi mới, công cuộc kháng chiến cũng gặp không ít khó khăn. Trên chiến trường chính, quân đội ta vẫn chưa nắm được quyền chủ động về chiến lược, chưa giành được ưu thế về quân sự. Căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc vẫn còn nằm trong tình trạng bị địch bao vây, phong tỏa.
Trong tình thế khó khăn và bị động trên chiến trường Đông Dương, thực dân Pháp đã vạch ra “Kế hoạch Rơve”, chủ trương khóa chặt biên giới Việt – Trung bằng một tuyến phòng thủ vững chắc trên đường số 4 cô lập cách mạng Việt Nam. Đồng thời, tung quân đánh rộng ra vùng trung du, thiết lập hành lang Đông - Tây, chặn con đường liên lạc giữa Việt Bắc với đồng bằng.
Trong tình hình đó, để tạo những chuyển biến mạnh mẽ cho kháng chiến, Hội nghị toàn quốc lần thứ 3 của Đảng (từ ngày 21/1 đến 3/2/1950) ra nghị quyết nêu rõ: “Cần phải nhân đà tiến bộ của bản thân ta, dựa vào sự giúp đỡ của các lực lượng bạn, lợi dụng sự lúng túng của thực dân Pháp, gấp rút hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị, giành thắng lợi lớn, làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho ta”. Cùng thời gian này. Trung ương Đảng chỉ thị cho Liên khu ủy Việt Bắc: “Chuẩn bị chiến trường Đông Bắc cho thật đầy đủ để khi có điều kiện sẽ mở một chiến dịch lớn, quét địch ra khỏi Đường số 4, đánh bại trong vùng Đông Bắc” .

Quân ta đào đường 3, chặn xe cơ giới Pháp.

Quân ta đào đường 3, chặn xe cơ giới Pháp.

Tháng 6/1950 tại ATK Định Hóa, Thái Nguyên, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới ở hướng Cao Bằng - Lạng Sơn, nhằm thực hiện ba mục đích: “Tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch. Giải phóng một phần biên giới, mở đường liên lạc với quốc tế. Mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc”.Bộ Chỉ huy chiến dịch do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy và Bí thư Đảng ủy mặt trận, quyết định tập trung một lực lượng mạnh tham gia chiến dịch. Lực lượng này gồm có Đại đoàn 308, Trung đoàn 209, Trung đoàn 174, bốn đại đội sơn pháo cùng với lực lượng vũ trang của Liên khu Việt Bắc và hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn.

Quân Pháp chiếm dinh công sứ.

Quân Pháp chiếm dinh công sứ.

Sáng 16/9/1950, quân ta nổ súng đánh Đông Khê, mở màn chiến dịch. Sau khi quân ta tấn công và tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê (diễn ra từ ngày 16 - 20/9/1950), Thất Khê bị uy hiếp trực tiếp, quân Pháp ở thị xã Cao Bằng bị cắt đường ứng cứu, có nguy cơ bị tiêu diệt. Trước tình hình đó, ngày 29/9/1950, quân Pháp tập trung lực lượng dự bị chiến lược ở Bắc Bộ do đích thân tướng Alếcxăngđri làm tổng chỉ huy, đại tá Gambiez, khi đó là Tư lệnh khu Delta phía Bắc chỉ huy thực chiến, gồm 6 tiểu đoàn (bộ binh, pháo binh, lính dù, xe bọc thép…) với trên 3.000 quân, mở cuộc hành quân “Phoque” (Chó biển) đánh chiếm thị xã Thái Nguyên, nhằm uy hiếp trung tâm Căn cứ địa Việt Bắc, ý đồ buộc quân ta phải kéo lực lượng chủ lực ở mặt trận biên giới về bảo vệ căn cứ để đỡ đòn cho đồng bọn và trấn an dư luận trong chính giới Pháp trước việc thất thủ Đông Khê.Những bức ảnh, thước phim tư liệu ghi lại cuộc hành quân Phoque của phóng viên người Pháp, tuy chỉ dưới góc nhìn một chiều, cũng phản ánh phần nào sự tàn khốc của cuộc chiến và ý chí của quân và dân Thái Nguyên. Không chỉ bố trí lực lượng phòng thủ, quân và dân ta còn đào hầm hào công sự chiến đấu, phá cầu, đào phá đường theo kiểu dích dắc, kẻ vẽ khẩu hiệu địch vận bằng tiếng Việt và tiếng Ả Rập. Một bức ảnh quân Pháp tiến vào dinh công sứ có dòng chữ “Anh em Việt Nam trong hàng ngũ địch hãy quay súng bắn vào giặc Tây”…Trang quân sự Pháp chú thích các bức ảnh ghi rõ: “Chiến dịch “Phoque” là một cuộc tấn công được phát động ngày 29 tháng 9 năm 1950 vào Thái Nguyên, do đại tá Gambiez chỉ huy, khi đó là Tư lệnh khu Delta phía Bắc. Chiến dịch huy động một lực lượng cơ động lớn, với mục tiêu đánh bật Việt Minh ra khỏi khu vực, sau đó tiến tới kiểm soát vùng đồng bằng. Thành phố này nằm cách Hà Nội khoảng 60km về phía Bắc, là một cứ điểm của Việt Minh, nơi quân Pháp chưa từng đặt chân tới kể từ khi chiến sự bùng nổ trở lại năm 1946. Đây cũng là một trung tâm liên lạc chiến lược, nối với nhiều tuyến đường từ Trung Quốc và đồng thời mở lối vào đồng bằng sông Hồng – khu vực đông dân và giàu có…”. Lực lượng quân đội Pháp tấn công lên Thái Nguyên theo 3 hướng: Hướng chính từ Quốc lộ 3 (Khi đó người Pháp gọi là tuyến RC 3, đường thuộc địa số 3) đánh lên Phổ Yên, thị xã Thái Nguyên. Hướng thứ 2 dùng ca nô và tầu chiến theo sông Cầu đánh lên Phú Bình. Hướng thứ 3 từ Phúc Yên theo sườn Tam Đảo vượt đèo Nhe đánh sang các xã Hợp Thành, Phúc Thuận (Phổ Yên), Thịnh Đức, Thịnh Đán (Đồng Hỷ).Lực lượng của ta tại mặt trận Thái Nguyên có bộ đội chủ lực của Bộ là Trung đoàn 246, Liên khu Việt Bắc có Trung đoàn 121, các tiểu đoàn chủ lực của tỉnh, các đại đội địa phương của huyện và dân quân du kích tỉnh Thái Nguyên. Theo phương án tác chiến của Bộ Tổng tham mưu, quân ta đã bố trí vành đai phòng thủ nhiều lớp, tạo gọng kìm thép quanh thị xã Thái Nguyên. Nhiều lực lượng án ngữ, đón lõng mọi khu vực quân Pháp có thể nhảy dù và truy quét bọn biệt kích.Trên hướng thứ nhất quân Pháp qua cầu Đa Phúc theo Quốc lộ 3 hành quân đánh lên Thái Nguyên. Đại đội 225 bộ đội địa phương Phổ Yên do Đại đội trưởng Quang Sóc chỉ huy đã chặn đánh địch ở Thanh Xuyên (Trung Thành), Thông Hạc (Nam Tiến), Ba Hàng (Đồng Tiến) làm chậm tiến độ tiến công của chúng.Hướng thứ hai, Đại đội 224 bộ đội địa phương Phú Bình cùng dân quân du kích phục kích địch ở bến đò Hà Châu. Quân Pháp tràn lên bờ định tiến lên thị xã Thái Nguyên theo đường 19. Đại đội 224 và dân quân du kích tiếp tục chặn đánh ở kè Đá Gân, Cổ Dạ, Cầu Mây.Trên hướng thứ ba, quân Pháp vượt đèo Nhe đánh chiếm các xã Hợp Thành, Phúc Thuận, Phổ Yên. Ngày 30/9 chúng vượt sông Công lên Bá Vân (Đồng Hỷ), nhưng bị Đại đội 225 Phổ Yên từ các xã dọc Quốc lộ 3 vận động về vùng Thu Sang, Lợi Xá chặn đánh tại bến Nít cả ngày. Đến đêm chúng ồ ạt tấn công vượt bến Nít sang Lợi Xá, Bá Vân. Đại đội 225 rút lên núi Đát Chọc tổ chức trận địa đánh địch. Trong 2 ngày 30/9 và 1/10, quân Pháp tập trung lực lượng tiến công tổng lực đánh chiếm thị xã Thái Nguyên từ khắp các hướng. Từ Phổ Yên chúng theo Quốc lộ 3 đánh chiếm Na Hoàng, Phố Hương, Lưu Xá, Gia Sàng, Âm Hồn. Từ Hà Châu chúng theo đường đất đỏ lên thị xã. Từ Bá Vân qua Thịnh Đức lên Thịnh Đán đánh chiếm Kép Le. Chiều 1/10 chúng huy động 27 máy bay ném bom bắn phá và thả 200 lính dù đổ bộ đánh chiếm sân bay Đồng Bẩm, tràn qua ngầm Bến Tượng phối hợp với các cánh quân hướng Phú Bình, Phổ Yên, Thịnh Đán lên đánh chiếm trung tâm thị xã Thái Nguyên. Sau khi chiếm được thị xã, Pháp cho quân củng cố, đóng giữ những vị trí quan trọng như núi Kô Kê, đồi Yên Ngựa, chùa Phủ Liễn, đồi Két Nước, đầu cầu Gia Bảy.Cùng với việc củng cố các vị trí chiếm đóng, địch tung quân lùng sục, càn quét các vùng xung quanh và dựa vào bọn phản động tay sai lập tề. Các lực lượng vũ trang và dân quân du kích nhanh chóng nổ súng tiêu diệt. Ngày 30/9 du kích Đồng Hỷ đánh 4 trận trên đường số 3, chợ Dốc Hanh và Bá Vân. Ngày 3/10 khoảng 1.000 tên địch từ thị xã Thái Nguyên hành quân càn quét làng Um, làng Hà thuộc xã Phúc Xuân bị bộ đội và du kích chặn đánh quyết liệt buộc chúng phải lui quân. Ngày 4/10 Đại đội 223 phối hợp với du kích chặn đánh một mũi càn quét lớn từ thị xã xuống Lưu Xá…Với ý chí kiên cường mưu trí sáng tạo, các lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh bao vây, cô lập, táo bạo đột kích, tiến công dũng mãnh với trên 60 trận khiến kẻ thù hoảng loạn, khiếp sợ. Gần nửa tháng chiến đấu, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 1.000 tên địch, bắn rơi 1 máy bay, phá hủy 3 ca nô, tầu chiến, một số xe bọc thép, xe cơ giới. Thu nhiều vũ khí các loại. Ngày 12/10/1950, quân Pháp buộc phải rút chạy khỏi địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

Quân ta chủ động phá cầu Gia Bảy để chặn bước quân Pháp tiến chiếm Thái Nguyên từ sân bay Đồng Bẩm.

Quân ta chủ động phá cầu Gia Bảy để chặn bước quân Pháp tiến chiếm Thái Nguyên từ sân bay Đồng Bẩm.

Cuốn “Lịch sử truyền thống Trung đoàn 246” (nay thuộc Sư đoàn 346, Quân khu 1) ghi: “Thời điểm này để bảo vệ vững chắc ATK, Tiểu đoàn 183 được lệnh tăng cường mức độ và phạm vi hành quân, vừa làm nhiệm vụ nghi binh chiến lược, vừa nghiên cứu trận địa đề phòng địch đánh ra vùng tự do tỉnh Thái Nguyên. Khi quân ta vừa diệt đồn Đông Khê mở màn Chiến dịch Biên Giới đêm 16/9/1950, ngày 29/9/1950 quân Pháp đưa trên 3.000 quân đánh chiếm thị xã Thái Nguyên, trung đoàn đã chọn Đại đội 62, Tiểu đoàn 183 cấp tốc hành quân về huyện Đồng Hỷ cùng các lực lượng vũ trang địa phương chặn đánh và tiến công địch ở Thác Huống, Thịnh Đức, An Khánh, Làng Hà…”.Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam và một số địa phương, đơn vị quân đội biên soạn lịch sử truyền thống đã thể hiện rõ tầm vóc của chiến thắng. Đại tá Giáp Ngọc Giới, nguyên Trưởng ban Biên soạn lịch sử và Tổng kết công tác Đảng, công tác chính trị trong các cuộc kháng chiến của Quân khu 1, hiện sinh sống tại thôn Um Ngò, xã Tân Yên, tỉnh Bắc Ninh (trước sáp nhập là xã Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang) trao đổi với chúng tôi và cho biết: “Trong điều kiện phòng gian bảo mật cực kì nghiêm ngặt bảo vệ trung tâm đầu não cuộc kháng chiến, hồ sơ tài liệu đều được lưu trữ theo chế độ “tuyệt mật”. Các cán bộ khai thác sưu tầm tư liệu đã dày công nghiên cứu hồ sơ, tài liệu lưu trữ tại K4 Bộ Quốc phòng và các nguồn tài liệu chính thức khác. Tái hiện những gian khổ hy sinh, tinh thần quả cảm của quân và dân ta mang ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc”. Chiến công của quân và dân Thái Nguyên bảo vệ vững chắc Căn cứ địa Việt Bắc (ATK), làm thất bại một kế hoạch lớn của Bộ Chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch Biên giới.Truyền thống của quê hương Thái Nguyên là nguồn lực nội sinh trong giai đoạn phát triển mới. Tôi mong muốn trong quy hoạch xây dựng đô thị, tỉnh ta có một đài bia kỷ niệm trận chiến và có các hình thức tuyên truyền, tri ân những cống hiến của thế hệ đi trước bảo vệ cửa ngõ vùng ATK năm xưa.

Phan Thái (biên soạn)

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/van-nghe-thai-nguyen/202606/tran-chien-thai-nguyen-1950-ban-hung-ca-viet-bac-82649ec/