Trên đất Khang Cù xưa
Vùng đất ven biển Khang Cù xưa nay thuộc xã Vạn Lộc có sông Lèn - cửa Lạch Sung được coi là cái nôi của cách mạng Thanh Hóa. Vùng đất của nắng gió và những con người 'Sống trong cát, chết vùi trong cát' vẫn luôn nỗ lực vươn lên nghịch cảnh để xây dựng cuộc sống, phát triển quê hương.

Diện mạo làng quê Hanh Cù - Hanh Cát hôm nay.
Hình thành từ quá trình bồi tụ của sông Lèn và những con sông nhỏ, vùng đất Khang Cù xưa (xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc cũ) còn được biết đến với những tên làng gần gũi và thân thương đã đi vào văn chương như Hanh Cát, Hanh Cù. Liền sông, kề biển, Khang Cù có dáng hình tựa bàn chân đang dấn ra biển Đông.
Các nhà địa chất tin rằng, khoảng nửa triệu năm trước, cả vùng đất rộng lớn này còn chìm trong đại dương mênh mông. Những cuộc biến thiên qua ngàn vạn năm của tạo hóa đã hình thành nên những núi Thần Phù, đảo Nẹ, hòn Bò, hòn Thụp ở phía bên ngoài. Bên trong này, mẹ thiên nhiên với những “vết thương” cũng dần lạnh lặn và hồi sinh, biển lùi dần, để lại những cồn cát mênh mông, cùng với quá trình bồi đắp của phù sa sông khiến nơi đây sự sống dần hình thành.
Nằm trong không gian của vùng Châu An Thiện xưa, có thể từ hàng nghìn năm về trước ở vùng đất này đã có dấu vết con người cư ngụ?! Tuy nhiên, việc hình thành nên làng xã Khang Cù được cho là vào khoảng thời Lê - Nguyễn, thế kỷ XVIII. Những người họ Đỗ, Bùi, Nguyễn, Vũ... vốn nghề chài lưới đã đến đây cùng nhau đánh bắt tôm cá, khai hoang vỡ đất tạo nên xóm làng, lập nên làng Khang Cù. Buổi ban đầu, Khang Cù thuộc tổng Thạch Giản, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, về sau thuộc tổng Sen Cừ, huyện Hậu Lộc. Đầu thế kỷ XX, Khang Cù được đổi tên thành Hanh Cù và làng Hanh Cát cũng được tách ra từ đây. Về sau có thêm các làng như Mỹ Điền, Hùng Thành...
Là vùng đất ven biển, có sông, có ruộng, có rừng... nương theo tự nhiên, người dân nơi đây đã đa dạng nghề nghiệp, sinh kế. Những người đầu tiên có công lập làng vốn nghề chài lưới song nghề đi biển lại không phải là thế mạnh trong phát triển kinh tế của người dân Khang Cù. Tuy nhiên, ở vùng bãi triều ven biển nơi đây, có một sản vật nổi tiếng, đó là cá còi. Người ta thường nói với nhau rằng, cá còi là một trong những loài cá kỳ lạ nhất hành tinh khi vừa biết lặn dưới sâu, “đi” trên cạn, lại còn biết leo cây, đây cũng là loài cá có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, được nhiều người ưa thích. Chính vì thế, người dân Khang Cù còn nổi tiếng với nghề đào bắt cá còi (vào những tháng đầu năm).
Cùng với khai thác, đánh bắt thủy hải sản, trên những đồng ruộng được tiền nhân nhọc lòng khai phá, đời nối đời người dân Khang Cù duy trì việc cấy cày để có lương thực. Ở những vùng bãi cạn, đất cát nhiều, bằng kinh nghiệm dân gian, người ta trồng lạc, khoai, đỗ... Nhờ chịu thương, chịu khó, tảo tần sớm hôm, đất và người Khang Cù đã đi qua gian lao, khó khăn, để cuộc sống mỗi ngày thêm đủ đầy hơn.
Nhắc đến Khang Cù hay Hanh Cát, Hanh Cù - vùng đất với những “nắng dài bãi cát” có những con người dẫu nghèo khó nhưng trái tim chan chứa yêu thương, khát khao độc lập, tự do. Những con người đã hiến dâng cuộc đời mình cho cách mạng, như gia đình Mẹ Tơm.
Năm 1942, sau khi vượt ngục, đồng chí Tố Hữu đã tìm về Thanh Hóa để liên lạc với tổ chức, lãnh đạo phong trào. Về Thanh Hóa, ông được đồng chí Đinh Chương Phượng (con trai nhà lão thành cách mạng Đinh Chương Dương) bí mật đưa đến nhà Mẹ Tơm ở Hanh Cù - Hanh Cát để được chăm sóc, bảo vệ. Sang năm 1943, cơ quan Tỉnh ủy từ Lộc Tiên - Y Vích cũng được chuyển về căn nhà của Mẹ Tơm. Tại đây, gian buồng tranh vách đất của mẹ đã trở thành nơi in ấn tài liệu, nuôi giấu cách mạng.
Mẹ Tơm nghèo nhưng yêu cách mạng. Ngày ngày, đôi chân trần rảo bước trên cát nóng bỏng, mẹ đi chợ bán từng mớ rau để có tiền về nuôi các con - những chiến sĩ cách mạng đang được mẹ nuôi giấu. Và mẹ còn là một “chiến sĩ” năng nổ, anh dũng trên mặt trận tuyên truyền. Những điều này đã được nhà thơ Tố Hữu ghi lại đầy chân thực: “Chợ xa, Mẹ gánh mớ rau xanh/ Thêm bó truyền đơn gọi đấu tranh/ Bãi cát vàng xưa in bóng Mẹ”. Còn khi đêm xuống, Mẹ lại âm thầm canh gác - “Bóng Mẹ ngồi canh lẫn bóng cồn”.

Lăng mộ Mẹ Tơm và các con của mẹ trên đất Khang Cù được tôn tạo khang trang.
Đọc lại những vần thơ, bài viết của các nhà lão thành cách mạng về Mẹ Tơm, hậu thế không khỏi mến phục, kính trọng mẹ. Một người mẹ nhân hậu, tảo tần, tiếp nối tinh thần, khí phách của phụ nữ Việt Nam từ thuở Bà Trưng, Bà Triệu khi “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Hoàn cảnh khiến mẹ chưa thể cầm súng, cầm gươm, nhưng mẹ làm công việc còn nguy hiểm hơn bội phần. “Nội dung mỗi tờ báo, mỗi tờ truyền đơn lúc ấy đều là tim óc, máu thịt con người. In một tờ báo, một tờ truyền đơn rất khó khăn. Giữ truyền đơn càng rất nguy hiểm. Rải truyền đơn, phát hành báo chí bị địch theo dõi, bắt được là bị đánh đập, tra tấn tù đày rất nặng. Mẹ Tơm không sợ, vẫn nuôi cán bộ trong nhà, vẫn mang truyền đơn đi rải chợ, gọi đấu tranh gây niềm tin cho cuộc sống, góp công trong việc nhóm lên ngọn lửa Cách mạng Tháng Tám vĩ đại” (sách Địa chí và Lịch sử xã Đa Lộc - Hậu Lộc).
Tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng đã được Mẹ Tơm và những thế hệ người dân Hanh Cù, Hanh Cát tiếp nối. Theo thống kê, trong giai đoạn tiền khởi nghĩa, Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp, Đa Lộc có 8 gia đình có công với nước, 13 cán bộ là lão thành cách mạng và tiền khởi nghĩa, 88 bộ đội, 56 thanh niên xung phong và 403 dân công hỏa tuyến; trong kháng chiến chống Mỹ, trận đánh ngày 5/8/1964 ở Lạch Trường và đảo Nẹ, Đa Lộc có 30 dân quân chèo thuyền ra đảo Nẹ chở thi hài các liệt sĩ vào bờ mai táng. Lực lượng dân quân xã đã phối hợp với bộ đội đảo Nẹ chiến đấu anh dũng, từng bắn rơi máy bay địch. Và trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước, cả dân tộc hướng về miền Nam thân yêu, Đa Lộc đã có 760 bộ đội, 1.783 lượt thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, công nhân quốc phòng... Đất nước thống nhất, nhưng đã có 78 người con đất Đa Lộc không thể trở về, họ là liệt sĩ được Tổ quốc ghi công; cùng với đó còn có hàng chục thương, bệnh binh, 2 Mẹ Việt Nam Anh hùng. Với rất nhiều những đóng góp cho Tổ quốc, năm 2015 xã Đa Lộc đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.
Thầy giáo Đào Thanh Hương, một người con ưu tú của đất Khang Cù xưa (anh Đào Thanh Hương là nạn nhân của chất độc da cam, nhưng vượt lên sự không may mắn của số phận, anh trở thành thầy giáo tận tâm, gieo tri thức cho nhiều thế hệ học trò) chia sẻ: “Đi qua những thử thách khắc nghiệt của tự nhiên, những gian lao, vất vả cùng đất nước trong những cuộc chiến vệ quốc, đất và người Đa Lộc vẫn luôn bền bỉ, nỗ lực không ngừng. Mỗi người dân với sự thuần hậu, chăm chỉ cố gắng từng ngày để cuộc sống đủ đầy. Hanh Cù, Hanh Cát hôm nay, đang từng ngày đổi thay, tươi đẹp hơn”.
(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong các sách Địa chí Hậu Lộc, NXB Khoa học Xã hội, 2018; Địa chí và lịch sử xã Đa Lộc - Hậu Lộc, NXB Văn hóa dân tộc, 2006)
Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/tren-dat-khang-cu-xua-43034.htm











