Trụ cột doanh nghiệp và sứ mệnh kiến tạo tăng trưởng kinh tế quốc gia

Từ yêu cầu xây dựng đội ngũ doanh nhân có tâm, có tầm đến đổi mới quản trị doanh nghiệp, Việt Nam đang khơi thông mạnh mẽ các nguồn lực phát triển. Khi thể chế trở thành bệ đỡ, doanh nghiệp được trao quyền tự chủ thực chất và cạnh tranh bình đẳng thì sức mạnh nội sinh của nền kinh tế sẽ được chuyển hóa thành năng suất, công nghệ, tăng trưởng. Doanh nghiệp chính là nội lực quốc gia, là lực lượng chiến lược trong cạnh tranh quốc tế.

Tại cuộc gặp mặt các doanh nghiệp tiêu biểu ở Hà Nội ngày 12/10, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh vai trò của đội ngũ doanh nhân trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Tiếp nối tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, doanh nhân được kỳ vọng đem tài năng, vốn liếng và tâm huyết để mở mang sản xuất, kinh doanh, làm việc “ích quốc lợi dân”. Thông điệp này đặt doanh nghiệp vào vị trí không chỉ là chủ thể tạo ra của cải, việc làm và nguồn thu ngân sách, mà còn là lực lượng góp phần hiện thực hóa những mục tiêu phát triển dài hạn của quốc gia.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Ảnh: TTXVN.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Ảnh: TTXVN.

Theo định hướng được lãnh đạo Đảng, Nhà nước đặt ra, Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 trở thành nước có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, nền kinh tế cần những doanh nghiệp đủ năng lực mở rộng quy mô, làm chủ công nghệ, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Một nền kinh tế có sức chống chịu không thể chỉ dựa vào một số tập đoàn đầu tàu. Sức mạnh nội sinh phải được hình thành từ cả hệ thống doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa là lực lượng đông đảo, tạo việc làm và duy trì mạng lưới sản xuất, cung ứng; doanh nghiệp lớn có khả năng dẫn dắt đầu tư, công nghệ, tiêu chuẩn và thị trường.

Vì vậy, phát triển doanh nghiệp cần được nhìn nhận như một quá trình xây dựng năng lực quốc gia. Doanh nghiệp không chỉ cần vốn để mở rộng sản xuất mà còn cần môi trường kinh doanh ổn định, chính sách có thể dự đoán, thủ tục minh bạch và khả năng tiếp cận bình đẳng các nguồn lực.

Đối với doanh nhân, tinh thần phụng sự đất nước cần đi cùng năng lực quản trị, đạo đức kinh doanh và khát vọng đổi mới. Đối với Nhà nước, sự đồng hành phải được thể hiện bằng thể chế thuận lợi, chính sách nhất quán và cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Khi hai phía cùng chuyển động, khu vực doanh nghiệp mới có thể trở thành động lực bền vững cho tăng trưởng.

Là Hãng hàng không Quốc gia, Vietnam Airlines tham gia như thế nào trong chuỗi giá trị, tạo động lực thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng của ngành hàng không Việt Nam nói riêng và GDP cả nước? Chia sẻ với Tiền Phong, ông Lê Hồng Hà - Tổng Giám đốc Vietnam Airlines - cho biết: “Trước khi nói về Vietnam Airlines, tôi muốn bắt đầu từ cách nhìn về ngành hàng không. Với một nền kinh tế có độ mở thuộc nhóm cao nhất thế giới như Việt Nam - tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tương đương khoảng 180% GDP - hàng không không chỉ là một ngành vận tải. Đó là hạ tầng kết nối tốc độ cao của nền kinh tế mở, nơi dòng vốn đầu tư, chuyên gia, hàng hóa giá trị cao và khách du lịch quốc tế đi qua”.

Ông Lê Hồng Hà - Tổng Giám đốc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines)

Ông Lê Hồng Hà - Tổng Giám đốc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines)

Theo ông Lê Hồng Hà, Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh doanh nghiệp là lực lượng tiên phong trên mặt trận kinh tế, vai trò của doanh nghiệp không chỉ nằm ở quy mô vốn mà ở giá trị gia tăng mới và sức bật mới cho nền kinh tế. Với Vietnam Airlines, giá trị gia tăng ấy nằm ở việc mỗi đường bay, mỗi chuyến bay đều kéo theo một chuỗi hoạt động kinh tế lớn hơn nhiều lần so với doanh thu của chính hãng.

Về đóng góp trực tiếp, trong 9 tháng đầu năm 2026, doanh thu hợp nhất của Vietnam Airlines ước đạt gần 116.000 tỷ đồng, tăng hơn 26% so với cùng kỳ. Hãng thực hiện hơn 122.000 chuyến bay, vận chuyển hơn 20 triệu lượt hành khách và 274.000 tấn hàng hóa, bưu kiện. Năm 2025, doanh thu hợp nhất đạt trên 121.000 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế trên 8.100 tỷ đồng - là doanh nghiệp hàng không có doanh thu lớn nhất Việt Nam. Tính trong hơn 30 năm hoạt động, Vietnam Airlines đã phục vụ hơn 350 triệu lượt khách, vận chuyển 4,7 triệu tấn hàng hóa, tạo ra 1,2 triệu tỷ đồng doanh thu và nộp ngân sách hơn 65.300 tỷ đồng. Đó là phần đóng góp có thể đo đếm được bằng tiền thuế, việc làm, đơn hàng mua sắm hàng hóa, dịch vụ của hàng nghìn doanh nghiệp trong nước.

“Nhưng phần đóng góp lớn hơn nằm ở tác động lan tỏa. Theo các nghiên cứu của Hiệp hội Vận tải hàng không quốc tế (IATA) và Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO), mỗi việc làm trực tiếp trong ngành hàng không hỗ trợ tạo ra 6-7 việc làm gián tiếp; mỗi 100 USD giá trị đầu ra của hàng không kích thích thêm khoảng 325 USD trong các ngành khác.

Tại Việt Nam, hơn 80% khách quốc tế đến bằng đường hàng không, trong khi du lịch đóng góp khoảng 9% GDP; khoảng 1/3 giá trị thương mại thế giới được vận chuyển bằng máy bay - chủ yếu là linh kiện điện tử, bán dẫn, dược phẩm, thương mại điện tử - là những ngành Việt Nam đang muốn thu hút để chuyển từ gia công, lắp ráp sang sản xuất có hàm lượng công nghệ cao” - ông Hà cho hay.

Khảo sát của IATA cũng cho thấy 63% doanh nghiệp coi kết nối hàng không là yếu tố "sống còn" hoặc "rất quan trọng" đối với quyết định đầu tư. Nói cách khác, năng lực kết nối hàng không là một biến số trực tiếp trong bài toán thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), phát triển du lịch và logistics - ba động lực tăng trưởng lớn của đất nước.

Hiện nay, ngành hàng không Việt Nam đóng góp khoảng 4% GDP nếu tính cả tác động lan tỏa. Ở các quốc gia đã xây dựng được trung tâm hàng không mạnh, con số này cao hơn nhiều: Thái Lan khoảng 6,8%, Thổ Nhĩ Kỳ 7,4%, UAE trên 18%. Khoảng cách đó cho thấy dư địa đóng góp của hàng không vào tăng trưởng của Việt Nam còn rất lớn. Theo tính toán của chúng tôi, nếu ngành hàng không được phát triển như một hệ sinh thái quốc gia đồng bộ, đóng góp trực tiếp và gián tiếp vào GDP hoàn toàn có thể nâng lên khoảng 6% vào năm 2030 và 8% vào năm 2035, tạo thêm hàng triệu việc làm, phần lớn trong khu vực tư nhân - từ du lịch, lưu trú, lữ hành đến logistics, công nghiệp hỗ trợ.

Trong chuỗi giá trị đó, Vietnam Airlines giữ vai trò hãng hàng không nòng cốt. Hãng phát triển đồng bộ mạng bay nội địa và quốc tế: Mạng nội địa phủ toàn bộ 22 sân bay của cả nước, liên kết các vùng kinh tế, đưa khách và hàng hóa từ các địa phương kết nối thông suốt với mạng quốc tế; mạng quốc tế với 72 đường bay đưa các địa phương tiếp cận nguồn khách, nguồn vốn và đối tác từ nhiều thị trường.

Vietnam Airlines là hãng duy nhất của Việt Nam khai thác thường lệ đội tàu bay thân rộng A350, B787 trên các đường bay xuyên lục địa; là thành viên liên minh SkyTeam với mạng kết nối gần 1.000 điểm đến tại 145 quốc gia; sở hữu chuỗi dịch vụ đồng bộ về kỹ thuật, phục vụ mặt đất, suất ăn, vận tải hàng hóa và đào tạo. Hãng đầu tư đào tạo phi công, kỹ sư, làm chủ công nghệ khai thác các dòng tàu bay thế hệ mới, áp dụng các tiêu chuẩn an toàn, chất lượng quốc tế - qua đó nâng chuẩn cho toàn ngành, giúp khai thác hiệu quả hệ thống cảng hàng không mà Nhà nước đã đầu tư.

Vietnam Airlines khẳng định vai trò của một doanh nghiệp nhà nước chủ lực, là “cầu nối” quan trọng góp phần mở rộng không gian kết nối của nền kinh tế Việt Nam với thế giới.

Vietnam Airlines khẳng định vai trò của một doanh nghiệp nhà nước chủ lực, là “cầu nối” quan trọng góp phần mở rộng không gian kết nối của nền kinh tế Việt Nam với thế giới.

“Vai trò Hãng hàng không Quốc gia còn thể hiện ở những việc thị trường tự nó không làm: Duy trì lực lượng, phương tiện và kinh nghiệm khai thác đường dài để thực hiện nhiệm vụ chuyên cơ, đối ngoại, hỗ trợ nhân đạo và bảo hộ công dân khi được giao; mở các đường bay chiến lược chấp nhận lỗ kế hoạch trong những năm đầu để tạo lập thị trường cho đất nước. Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, chúng tôi làm việc với các bộ, ngành, địa phương để gắn phát triển đường bay với các chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch.

Đất nước đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số. Với Vietnam Airlines, điều đó có nghĩa là năng lực vận tải phải đi trước một bước - từ đội tàu bay, nhân lực đến mạng đường bay - để không trở thành điểm nghẽn mà là động lực của sản xuất, xuất khẩu và du lịch. Chúng tôi xác định rõ: Đóng góp của Hãng hàng không Quốc gia vào tăng trưởng không được đo bằng con số lợi nhuận của riêng Hãng, mà bằng không gian phát triển mà Hãng mở ra cho cả nền kinh tế” - Tổng Giám đốc Vietnam Airlines Lê Hồng Hà nhấn mạnh.

Mở các đường bay trực tiếp tới các trung tâm kinh tế lớn trên toàn cầu, Vietnam Airlines khẳng định vai trò của một doanh nghiệp nhà nước chủ lực, là “cầu nối” quan trọng góp phần mở rộng không gian kết nối của nền kinh tế Việt Nam với thế giới, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Theo Tổng Giám đốc Vietnam Airlines, năng lực cạnh tranh quốc gia ngày nay được các tổ chức quốc tế đo lường bằng những thang đo rất cụ thể và hàng không hiện diện trực tiếp trong đó. Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới đo mức độ kết nối hàng không và hiệu quả dịch vụ vận tải hàng không ngay trong trụ cột cơ sở hạ tầng; IATA xếp hạng các quốc gia theo chỉ số kết nối hàng không quốc tế; Chỉ số năng lực phát triển du lịch cũng lấy hạ tầng vận tải hàng không làm một trụ cột. Vì vậy, mỗi đường bay thẳng mới không chỉ là thêm một sản phẩm thương mại của Hãng, mà là một bước nâng trực tiếp vị trí của Việt Nam trên các bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh.

Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước yêu cầu doanh nghiệp nhà nước phải "tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường" trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược. “Với Vietnam Airlines, "mở đường" theo đúng nghĩa đen: Trong 10 năm qua, mạng bay quốc tế của Việt Nam mở rộng từ 32 lên 48 điểm đến tại 21 quốc gia và toàn bộ các quốc gia mới được bổ sung vào bản đồ bay của Việt Nam - Hoa Kỳ, Italia, Đan Mạch, Hà Lan, Sri-Lanka - đều do Vietnam Airlines đi đầu khai mở. Chúng tôi xác định vai trò tiên phong chính là chủ động phát triển các đường bay quốc tế chiến lược, đầu tư phát triển nguồn khách và quan hệ đối tác để duy trì kết nối lâu dài, kể cả khi hiệu quả tài chính của từng đường bay chưa đến ngay” - ông Hà thông tin.

Dẫn chứng về đường bay thẳng thường lệ đến Hoa Kỳ ngày 28/11/2021, Tổng Giám đốc Vietnam Airlines cho biết đó là kết quả của 20 năm chuẩn bị, đàm phán giữa nhà chức trách và hãng hàng không hai nước, là dấu mốc lịch sử khi Vietnam Airlines trở thành hãng hàng không Việt Nam đầu tiên được cấp phép bay thẳng thường lệ tới thị trường có yêu cầu khắt khe nhất thế giới. “Với vai trò Hãng hàng không Quốc gia, đây không đơn thuần là câu chuyện kinh doanh mà là nhiệm vụ chính trị: Hoa Kỳ là đối tác chiến lược toàn diện, thị trường xuất khẩu lớn nhất, nơi có cộng đồng người Việt và du học sinh đông đảo bậc nhất thế giới. Một đường bay thẳng ổn định tới đó là cây cầu cho hàng hóa, đầu tư, giáo dục và giao lưu nhân dân” - ông Hà nhấn mạnh.

Tại châu Âu, ngày 16/6/2026, Hãng khai trương đường bay Hà Nội - Amsterdam với ba chuyến khứ hồi mỗi tuần bằng Airbus A350, đưa mạng bay thẳng giữa Việt Nam và châu Âu lên 12 đường bay, kết nối 8 điểm đến. Cùng với Milan, Copenhagen, Amsterdam hoàn thiện mạng kết nối tới các trung tâm kinh tế lớn của lục địa này, đồng thời giúp hành khách và hàng hóa đi tiếp qua mạng bay của các đối tác SkyTeam. Các nhà đầu tư chiến lược trong lĩnh vực công nghệ cao thường ưu tiên thị trường có hãng hàng không quốc gia uy tín với mạng bay thẳng ổn định tới các trung tâm đầu tư nguồn ở Bắc Mỹ, châu Âu, Đông Bắc Á, thay vì phải quá cảnh qua nước thứ ba. Các kết nối ổn định ấy là cơ sở để doanh nghiệp xây dựng kế hoạch hợp tác, giao thương lâu dài với Việt Nam và là lý do Vietnam Airlines xác định mở đường bay chiến lược là một cấu phần của chiến lược xúc tiến đầu tư quốc gia.

Theo lãnh đạo Vietnam Airlines, bên cạnh kết nối, mỗi chuyến bay mang biểu tượng Hoa sen vàng còn là một "không gian văn hóa Việt Nam di động" - kênh quảng bá hình ảnh đất nước, con người, ẩm thực và di sản tới hàng chục triệu lượt khách mỗi năm. Đó là đóng góp của Hãng hàng không Quốc gia vào sức mạnh mềm và thương hiệu quốc gia, những yếu tố ngày càng được tính vào năng lực cạnh tranh của mỗi nước.

Nhìn về phía trước, kinh nghiệm quốc tế cho thấy cạnh tranh trong khu vực đã chuyển từ cạnh tranh giữa các hãng hàng không sang cạnh tranh giữa các hệ sinh thái trung tâm trung chuyển. Không một trung tâm trung chuyển nào thành công mà không có một hãng hàng không nòng cốt đủ mạnh gắn với sân bay cửa ngõ. Bởi vậy, các dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành và Gia Bình mở ra cơ hội lịch sử để Việt Nam hình thành năng lực trung chuyển quốc tế thực thụ.

Vietnam Airlines đang chuẩn bị đội tàu bay, nhân lực và phương án khai thác đồng bộ với tiến độ của các dự án này: Tổ chức mạng bay và lịch nối chuyến thuận tiện để thu hút khách từ nhiều điểm xuất phát đến Việt Nam rồi đi tiếp tới các địa phương hoặc các nước trong khu vực. Nguồn khách trung chuyển giúp duy trì các đường bay dài, đồng thời đưa thêm khách và hàng hóa đến các điểm trong nước - biến vị trí địa lý thành vị thế kinh tế.

Mục tiêu của Vietnam Airlines đến năm 2030 là mở rộng mạng bay quốc tế lên khoảng 62 điểm đến tại 30 quốc gia, phát triển đội tàu bay lên trên 170 chiếc, đạt chất lượng dịch vụ 5 sao và trở thành hãng hàng không số theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, góp phần đưa Việt Nam vào nhóm 15 quốc gia có năng lực kết nối hàng không hàng đầu thế giới. Để đi được chặng đường ấy, nỗ lực tự thân của doanh nghiệp là chính, nhưng cũng rất cần cơ chế, chính sách tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn về vốn, đội bay và tài nguyên hàng không chiến lược, bởi cửa sổ cơ hội gắn với Long Thành, Gia Bình không kéo dài mãi.

“Với vai trò Hãng hàng không Quốc gia, Vietnam Airlines coi phát triển mạng bay quốc tế là một nhiệm vụ gắn với yêu cầu nâng cao năng lực kết nối và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Chúng tôi sẽ tiếp tục mở rộng các kết nối chiến lược, đồng hành cùng doanh nghiệp, địa phương và đối tác quốc tế, góp phần đưa Việt Nam hội nhập sâu hơn vào các dòng chảy kinh tế toàn cầu - để mỗi đường bay thẳng thực sự là một cánh cửa mở rộng không gian phát triển của đất nước” - Tổng Giám đốc Vietnam Airlines Lê Hồng Hà khẳng định.

Năng lượng và tài chính - ngân hàng là hai lĩnh vực thể hiện rõ vai trò của doanh nghiệp nhà nước đối với sức mạnh nội sinh của nền kinh tế. Đó là bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển công nghiệp và chuỗi cung ứng trong nước thì các ngân hàng thương mại nhà nước có nhiệm vụ cung ứng vốn, ổn định thị trường tiền tệ và tạo nguồn lực tài chính cho tăng trưởng.

Ông Lê Mạnh Cường - Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam)

Ông Lê Mạnh Cường - Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam)

Theo ông Lê Mạnh Cường - Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ tăng mạnh. Điều này đòi hỏi phải bổ sung quy mô lớn công suất nguồn điện mới, phát triển đồng bộ, đa dạng các nguồn năng lượng. Với Petrovietnam, nhu cầu vốn trong những năm tới rất lớn nhằm đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 2, các dự án thăm dò, khai thác dầu khí và phát triển hạ tầng khí thiên nhiên hóa lỏng.

“Bài toán của tập đoàn không chỉ nằm ở khả năng huy động vốn và triển khai dự án, mà còn ở việc bảo đảm hiệu quả đầu tư trong bối cảnh thị trường năng lượng biến động, yêu cầu giảm phát thải ngày càng cao và công nghệ thay đổi nhanh chóng. Những dự án quy mô lớn cần được chuẩn bị kỹ lưỡng về nguồn lực, tiến độ, phương án tài chính và quản trị rủi ro”, ông Lê Mạnh Cường nhấn mạnh.

Theo lãnh đạo Petrovietnam, chuyển dịch năng lượng đặt ra yêu cầu cân bằng giữa mục tiêu xanh hóa và an ninh cung ứng. Phát triển năng lượng tái tạo, khí thiên nhiên hóa lỏng và các công nghệ mới phải đi cùng hệ thống truyền tải, lưu trữ và năng lực điều độ. Nếu chỉ thay thế nguồn nhiên liệu mà vẫn phụ thuộc lớn vào thiết bị, công nghệ và chuỗi cung ứng bên ngoài, mức độ tự chủ năng lượng sẽ chưa được cải thiện tương xứng.

chuyển dịch năng lượng đặt ra yêu cầu cân bằng giữa mục tiêu xanh hóa và an ninh cung ứng. Ảnh: PVN.

chuyển dịch năng lượng đặt ra yêu cầu cân bằng giữa mục tiêu xanh hóa và an ninh cung ứng. Ảnh: PVN.

Vì vậy, vai trò của doanh nghiệp năng lượng đầu tàu không chỉ nằm ở đầu tư và cung ứng, mà còn ở khả năng tích lũy công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và mở rộng hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước. Khi các dự án lớn tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia cung ứng thiết bị, dịch vụ kỹ thuật, xây lắp, vận hành và bảo dưỡng, nguồn lực đầu tư sẽ được chuyển hóa thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng nội địa.

“Với Petrovietnam, hiệu quả của một dự án không chỉ được đo bằng sản lượng hay doanh thu, mà còn bằng khả năng tạo ra năng lực công nghệ, củng cố chuỗi cung ứng và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế” - Tổng Giám đốc Lê Mạnh Cường cho hay.

Ở lĩnh vực tài chính - ngân hàng, Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1 về phát triển kinh tế nhà nước đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước lọt tốp 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản. Đây vừa là mục tiêu về quy mô, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tài chính, quản trị và sức cạnh tranh quốc tế của các ngân hàng trụ cột.

Ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)

Ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)

Trao đổi về định hướng này, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) - cho biết các mục tiêu và giải pháp tại Nghị quyết 79 có mức độ tương đồng cao với chiến lược phát triển của ngân hàng. Theo ông Tùng, Vietcombank tiếp cận mục tiêu không đơn thuần là mở rộng quy mô tài sản, mà là quá trình nâng tầm toàn diện về năng lực tài chính, chất lượng tăng trưởng, chuẩn mực quản trị và vị thế khu vực.

Ngân hàng xác định 4 định hướng trọng tâm gồm: Phát huy vai trò điều tiết và dẫn dắt thị trường; tăng cường năng lực tài chính; đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị dữ liệu; đổi mới cơ chế nhân sự, tạo động lực nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động. Trong đó, Vietcombank tiếp tục định hướng tín dụng phù hợp với chu kỳ kinh tế, ưu tiên nguồn vốn cho các lĩnh vực then chốt, dự án trọng điểm quốc gia và những động lực tăng trưởng mới như hạ tầng chiến lược, chuyển đổi năng lượng, kinh tế số. Ngân hàng cũng hướng tới xây dựng dư địa tăng trưởng phù hợp để có thể hỗ trợ nền kinh tế trong những giai đoạn biến động.

Một trong những vấn đề được lãnh đạo Vietcombank nhấn mạnh là tăng cường năng lực tài chính. Vốn có vai trò nền tảng đối với khả năng mở rộng tín dụng, đầu tư công nghệ, đáp ứng các chuẩn mực an toàn và nâng cao sức cạnh tranh của ngân hàng.

Vốn có vai trò nền tảng đối với khả năng mở rộng tín dụng, đầu tư công nghệ, đáp ứng các chuẩn mực an toàn và nâng cao sức cạnh tranh của ngân hàng. Ảnh: VCB.

Vốn có vai trò nền tảng đối với khả năng mở rộng tín dụng, đầu tư công nghệ, đáp ứng các chuẩn mực an toàn và nâng cao sức cạnh tranh của ngân hàng. Ảnh: VCB.

Trong nhiều năm, các ngân hàng thương mại nhà nước phải cân đối giữa nhu cầu giữ lại lợi nhuận để tăng vốn với nghĩa vụ nộp cổ tức tiền mặt về ngân sách nhà nước. Trong khi đó, yêu cầu tăng trưởng tín dụng, đầu tư chuyển đổi số và đáp ứng các chuẩn mực quốc tế ngày càng cao.

Nghị quyết 79 mở ra cơ sở quan trọng để tháo gỡ những điểm nghẽn này, trong đó có định hướng sử dụng nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp để bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp nhà nước, bao gồm các ngân hàng thương mại nhà nước.

“Đối với Vietcombank, đây là cơ sở để ngân hàng chủ động hơn trong chiến lược tăng vốn trung và dài hạn, tạo dư địa mở rộng quy mô, đầu tư công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, tăng vốn chỉ là điều kiện cần. Để thực sự vươn lên nhóm ngân hàng hàng đầu châu Á, các ngân hàng còn phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, quản trị rủi ro và chất lượng tăng trưởng” - ông Tùng cho hay.

Việt Nam là nền kinh tế mở thuộc nhóm cao nhất thế giới. Ảnh: VGP.

Việt Nam là nền kinh tế mở thuộc nhóm cao nhất thế giới. Ảnh: VGP.

Từ Petrovietnam đến Vietcombank, điểm chung của những doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò trụ cột là phải chuyển lợi thế về nguồn lực thành năng lực cạnh tranh thực chất. Với doanh nghiệp năng lượng, đó là năng lực bảo đảm an ninh năng lượng, làm chủ công nghệ và phát triển chuỗi cung ứng. Với ngân hàng, đó là năng lực tài chính, quản trị hiện đại, công nghệ và khả năng cung ứng vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Đây cũng là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước: Không chỉ nắm giữ nguồn lực quan trọng mà phải sử dụng nguồn lực ấy hiệu quả hơn, tạo sức lan tỏa lớn hơn và đóng góp thiết thực hơn cho tăng trưởng dài hạn.

Một trong những điều kiện quan trọng để phát huy sức mạnh của doanh nghiệp là đổi mới thể chế và cơ chế quản trị. Đối với doanh nghiệp nhà nước, yêu cầu này càng cấp thiết bởi đây là khu vực nắm giữ nguồn lực lớn, hoạt động trong nhiều ngành, lĩnh vực then chốt và có ảnh hưởng đáng kể đến ổn định kinh tế vĩ mô.

Luật số 68/2025/QH15 về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp mở rộng phạm vi điều chỉnh, đồng thời làm rõ nguyên tắc Nhà nước thực hiện quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu theo cơ chế thị trường, minh bạch, hiệu quả; tách bạch chức năng quản lý nhà nước với quản trị doanh nghiệp.

Chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành - Giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh.

Chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành - Giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh.

Điểm đáng chú ý là tinh thần trao quyền tự chủ nhiều hơn cho doanh nghiệp, để chủ sở hữu nhà nước thực hiện quyền đối với phần vốn góp theo nguyên tắc của nhà đầu tư. Trao quyền tự chủ không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Ngược lại, doanh nghiệp càng được chủ động thì yêu cầu về công khai thông tin, kiểm soát rủi ro, trách nhiệm giải trình và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn càng phải rõ ràng. Nhà nước cần chuyển từ cách quản lý thiên về can thiệp từng quyết định sang thiết lập mục tiêu, tiêu chuẩn, cơ chế giám sát và trách nhiệm cụ thể.

Phân tích về vai trò của doanh nghiệp Nhà nước, chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành - Giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh - cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào quy mô vốn hay lợi thế về nguồn lực, mà còn chịu tác động lớn từ cơ chế quản trị.

Doanh nghiệp tư nhân thường có lợi thế về tính linh hoạt trong tổ chức, ra quyết định và phản ứng với biến động thị trường. Trong khi đó, doanh nghiệp nhà nước có thể sở hữu nguồn lực lớn, vị thế và uy tín nhất định, nhưng nếu cơ chế quản trị còn cứng nhắc, những lợi thế này khó chuyển hóa đầy đủ thành hiệu quả kinh doanh. Cần đánh giá vai trò của doanh nghiệp nhà nước không chỉ bằng quy mô sở hữu, mà bằng năng lực thực hiện những nhiệm vụ chiến lược và khả năng tạo động lực cho nền kinh tế. Năng lực dẫn dắt không thể chỉ đến từ quy mô vốn hay vị thế được giao, mà phải được chứng minh bằng năng suất, chất lượng sản phẩm, khả năng đổi mới và sức cạnh tranh.

Dự án sân bay Phú Quốc mới do doanh nghiệp tư nhân đầu tư. Ảnh: Sun Group.

Dự án sân bay Phú Quốc mới do doanh nghiệp tư nhân đầu tư. Ảnh: Sun Group.

“Doanh nghiệp nhà nước phải có chiến lược rõ ràng, tập trung nguồn lực vào lĩnh vực cốt lõi, chủ động đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ và xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Những dự án có quy mô lớn cần được đánh giá trên cơ sở hiệu quả kinh tế - xã hội, khả năng lan tỏa và mức độ đóng góp cho năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp tư nhân cần được tiếp cận bình đẳng với các cơ hội đầu tư, đất đai, tín dụng, công nghệ và thị trường. Khi khu vực tư nhân có điều kiện phát triển, nền kinh tế sẽ có thêm nguồn lực đổi mới sáng tạo, mở rộng việc làm và nâng cao năng suất. Sự lớn mạnh của doanh nghiệp tư nhân cũng tạo ra những đối tác, nhà cung ứng và khách hàng cho các tập đoàn đầu tàu, qua đó hình thành mạng lưới sản xuất có sức cạnh tranh cao hơn” - ông Thành cho biết.

Vị chuyên gia cho rằng, một yêu cầu quan trọng khác là chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Chính sách cần ổn định, minh bạch và có khả năng dự đoán; thủ tục hành chính phải giảm chi phí thực chất; trách nhiệm giữa các cơ quan cần được phân định rõ để doanh nghiệp không phải mất quá nhiều thời gian xử lý những vướng mắc không thuộc trách nhiệm của mình. Sức mạnh nội sinh của nền kinh tế vì thế không chỉ nằm ở lượng vốn được huy động hay số lượng dự án được triển khai. Quan trọng hơn là khả năng biến nguồn lực thành năng suất, công nghệ, sản phẩm có giá trị gia tăng cao và đội ngũ doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

“Từ doanh nghiệp tư nhân đến các tập đoàn nhà nước trong lĩnh vực chiến lược, mỗi chủ thể đều có vai trò riêng trong cấu trúc phát triển quốc gia. Khi thể chế mở đường, quản trị được đổi mới, cạnh tranh được bảo đảm và nguồn lực được sử dụng hiệu quả, doanh nghiệp sẽ trở thành trụ cột thực chất của nền kinh tế. Đó cũng là điều kiện để Việt Nam chuyển hóa khát vọng phát triển thành năng lực tăng trưởng bền vững, từng bước nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu và tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045”, ông Thành cho hay.

Như Quỳnh - Ngọc Mai | Đồ họa: Kiều Tú

Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/tru-cot-doanh-nghiep-va-su-menh-kien-tao-tang-truong-kinh-te-quoc-gia-post1889849.tpo