Trước NSƯT Thanh Nga, nghệ sĩ nào diễn thành công vai Trưng Trắc?
Nghệ sĩ tiền phong Năm Sa Đéc là một trong những người đầu tiên đảm nhận thành công vai Trưng Trắc trong tuồng 'Trưng nữ vương', biểu diễn năm 1954.

Nghệ sĩ Năm Sa Đéc (thứ hai từ phải sang) đóng vai mẹ chồng trong tuồng Đoạn Tuyệt. Ảnh: T.L.
Trước NSƯT Thanh Nga, nghệ sĩ tiền phong Năm Sa Đéc (1907-1988) từng ghi dấu ấn sâu đậm với vai Trưng Trắc năm 1954. Bà là một trong những người đầu tiên đưa hình tượng anh hùng này lên sân khấu một cách bài bản và thuyết phục.
Bà Năm Sa Đéc - tên thật Nguyễn Kim Chung - còn là cô đào tài danh của sân khấu hát bội và cải lương, đồng thời là người vợ gắn bó với học giả Vương Hồng Sển. Bà được nhắc đến nhiều trong Hồi ký 50 năm mê hát - Năm mươi năm cải lương như một đại diện tiêu biểu của thế hệ nghệ sĩ tiền phong với tài năng đa dạng và cốt cách làm nghề chỉn chu, tận hiến.
Kép đào xứng vai, màu mè đúng điệu
Nữ nghệ sĩ Năm Sa Đéc, tên thật là Kim Chung, là cô đào tài danh và đa năng trên sân khấu cổ truyền. Bà không chỉ biến hóa với những vai giả nam dũng mãnh như Lữ Bố trong Phụng Nghi Đình hay vai lam lũ bần hàn như kẻ hành khất, mà còn để lại dấu ấn đậm nét qua hình tượng nữ anh hùng Trưng Trắc.
Về ngọn nguồn nghệ danh đầy ý nghĩa của người vợ yêu quý, học giả Vương Hồng Sển đã giải thích cặn kẽ: "Cùng với bà Tư Bền, cô Năm Chung là hai cô đào tiền bối ngành hát bội, cũng như Cô Năm Nhỏ gánh bà Ba Ngoạn, cho đến nay chưa có ai thay thế và sánh tài bằng. Năm Chung, Tư Bền, Sáu Sển, Năm Nhỏ, Ba Quyền là những đào hát bội sanh ra có một lớp đó rồi khi tàn, không ai thay thế. Để chứng minh lớp sau muốn nối đuôi lớp trước, tôi xin cử vài tỷ dụ: như cô Kim Cúc gánh Năm Châu là để nhớ cô Cúc, vợ Bảy Thông gánh thầy Thận; và tệ nội, Năm Sa Đéc, tộc danh Kim Chung, là để nhắc cô Năm Chung xứ Rạch Gầm".

Nghệ sĩ tiền phong Năm Sa Đéc (1907-1988) thành công với vai Trưng Trắc trong tuồng Trưng nữ vương năm 1954. Ảnh: T.L.
Mang khát vọng nối bước người xưa, bà Năm Sa Đéc đã dốc sức cống hiến và tỏa sáng ở vị trí đào chánh trong vở tuồng Trưng nữ vương trình diễn vào ngày 15/5/1954. Đây là một đêm diễn hội tụ những tài năng xuất chúng bậc nhất đương thời của Hội Khuyến lệ cổ ca, với sự góp mặt của cô Ba Út vai Trưng Nhị, cô Hai Nhỏ vai Thánh Thiên công chúa và kép Hữu Thoại vai Thi Sách.
Sự chỉn chu, cách tân mới mẻ của vở diễn lịch sử này đã được ông Sển ghi nhận lại qua một đoạn miêu tả: "Hội Khuyến lệ cổ ca trình diễn tuồng Trưng nữ vương do Thần Vân soạn. Tuồng lịch sử có giá trị, kép đào xứng vai và màu mè đúng điệu. Y phục sửa lại theo quan niệm mới hạp thời đại: chích khăn be, mặc áo rộng màu vàng... Lính mặc áo tay đỏ nút chì theo cổ thời, tay phất cờ đào...".
Hơn hai thập kỷ sau thành công của bà Năm Sa Đéc, hình tượng Trưng Trắc một lần nữa lại làm nức lòng khán giả Nam Bộ qua vở cải lương Tiếng Trống Mê Linh (1977) với diễn xuất đỉnh cao của cố NSƯT Thanh Nga. Dù mỗi thế hệ mang một phong cách trình diễn khác nhau, cả bà Năm Sa Đéc và Thanh Nga đều tạc nên những tượng đài bất tử về người anh hùng dân tộc.
Sự chuyển giao đầy tự hào ấy cũng phần nào an ủi được nỗi ngậm ngùi của học giả Vương Hồng Sển thuở trước, khi ông từng xót xa than thở rằng trên sân khấu cổ truyền "lớp cũ ra đi, lớp mới chưa đào tạo".

Cố NSƯT Thanh Nga đóng vai Trưng Trắc trong tuồng Tiếng Trống Mê Linh. Ảnh: T.L.
Những nghệ sĩ cải lương đầu tiên
Hồi ký của học giả vương Hồng Sển được xem như một trong những biên khảo đầy đủ về lịch sử nghệ thuật sân khấu Nam bộ buổi giao thời. Ông đã viết nhiều tư liệu, nhận xét tỉ mỉ về thế hệ nghệ sĩ cải lương tiền phong như cô Năm Phỉ (dì ruột của NSND Kim Cương), kép Hai Giỏi, danh ca Ba Lễ, kép Tư Út.
Một trong những trường hợp tiêu biểu được tác giả đề cập là đôi bạn diễn Năm Phỉ và Hai Giỏi. Ông Sển kể nghệ sĩ Năm Phỉ chuyên trị những vai bi kịch, thất tình, đau khổ làm khán giả sụt sùi khóc như Bàng Quý phi trong tuồng Xử án Bàng Quý phi, Lan trong tuồng Lan và Điệp, Điêu Thuyền trong tuồng Phụng Nghi Đình… Sát cánh cùng bà là kép Hai Giỏi, một nghệ sĩ có giọng ca nức nở, tài nghệ bậc nhất nhưng lại mang bạo bệnh và qua đời từ lúc mới 18 tuổi.
Thế hệ nghệ sĩ cải lương tiền phong còn ghi nhận tên tuổi của danh ca Ba Lễ, người nổi tiếng với giọng hát xuất chúng. Học giả Vương Hồng Sển nhận xét ông là người hát "Tứ đại oán" hay đến mức ai cũng mê mẩn, hơi xuân lay động lòng người. Tuy nhiên, song hành cùng tài năng thiên bẩm, danh ca Ba Lễ lại có thói quen uống rượu triền miên. Người nghệ sĩ này thường du ngoạn, đàn ca thâu đêm trên ghe thuyền cùng giới mộ điệu.

Hồi ký 50 năm mê hát - Năm mươi năm cải lương của học giả Vương Hồng Sển. Ảnh: NXB Trẻ.
Học giả Vương Hồng Sển dẫn lời báo chí nhận xét về ông Ba Lễ: "Lúc nào, nếu anh có tâm sự não nề sầu muộn thì anh ca oán thật oán, một giọng thống thiết bi ai có thể rơi lệ khi nhìn cái nét mặt thiểu não của anh, thật là hồn ca lai láng. Anh có đại tật. Tật ấy như thi sĩ Lý Bạch (có rượu thánh mới có thi thần) ? Còn anh, có cô-nhác (rượu cognac - PV), anh ca mới trầm hùng. Càng nhậu nhiều càng ca hay, uống như hũ chìm, lạ cái là uống rượu không biết say".
Một nhân vật khác cũng được nhắc là kép Tư Út, người nghệ sĩ sở hữu ngoại hình hào hoa, duyên dáng và dễ dàng chiếm được cảm tình của khán giả nhờ khả năng ăn nói. Dù vậy, ông có nhược điểm lớn là lười học kịch bản, thường xuyên bước lên sân khấu trong tình trạng quên lời và phải sống phụ thuộc vào người nhắc tuồng. Bất chấp những sơ hở về chuyên môn, khán giả thời bấy giờ vẫn hoan nghênh và ái mộ Tư Út nhờ cái duyên sân khấu bẩm sinh.

Tranh Hai Bà Trưng của họa sĩ Xuân Lam, vẽ theo tranh dân gian.
Nhìn lại toàn cảnh về thế hệ nghệ sĩ tiền phong, học giả Vương Hồng Sển thể hiện một cái nhìn đầy thực tế về quy luật thịnh suy của nghệ thuật sân khấu. Từ những năm 1960-1970, ông đã cho rằng nghệ thuật cải lương rồi cũng sẽ đi theo bước đường tàn lụi của nghệ thuật hát bội, bởi lẽ "luật tạo hóa đã định, nhơn vật đạo đồng".
"Nói nữa sẽ chán tai và mích lòng. Và nói cũng không hết. Và cũng không thấy ai chịu viết nên tôi đánh bạo vọc vạch mấy hàng, không dè dặm được trên trăm trang [...] và chỉ xin nhớ đây là chút ít tài liệu cũ, không còn đâu nữa, và tưởng nên chép lại làm một tập đầu châm ngòi, cũng đáng để dành về sau cho hàng thức giả có tài liệu tra cứu", học giả kết luận.











