Truyền thông khoa học: Nghề dành cho người mê khoa học và thích kể chuyện

Truyền thông khoa học được ví như chiếc cầu nối đưa những kiến thức hàn lâm đến gần hơn với công chúng. Dù còn khá mới tại Việt Nam, lĩnh vực này đang mở ra nhiều cơ hội cho những bạn trẻ yêu khoa học, thích truyền thông và muốn tạo ra những nội dung có giá trị. Cùng Thạc sĩ Nguyễn Hoàng Anh Khoa giải mã nghề đầy tiềm năng này.

Nguyễn Hoàng Anh Khoa (Dy Khoa) hiện là giảng viên Khoa Quan hệ công chúng và Truyền thông - Trường Đại học Văn Lang. Anh tốt nghiệp loại Xuất sắc chương trình Thạc sĩ Truyền thông khoa học và Thu hút công chúng tại Đại học Malaya (Malaysia) - trường hạng 56 thế giới trong bảng xếp hạng QS năm 2027. Anh có hơn 10 năm kinh nghiệm liên ngành trong truyền thông khoa học, truyền thông y tế và báo chí, từng làm việc tại nhiều startup y tế công nghệ như Jio Health, Hello Bacsi, DNA Medical Technology… và là tác giả cuốn sách “Đi qua hai mùa dịch” (ra mắt năm 2020).

Nghề "dịch" khoa học và thách thức bắt tay cùng AI

Thoạt nghe, nhiều người sẽ nghĩ truyền thông khoa học chỉ đơn giản là "dịch" những nghiên cứu đầy thuật ngữ chuyên môn thành ngôn ngữ dễ hiểu. Thế nhưng, theo anh Dy Khoa, đó mới chỉ là một phần của công việc. Cái khó nằm ở việc đơn giản hóa thông tin nhưng vẫn giữ được độ chính xác khoa học. Họ luôn phải cân bằng giữa độ chính xác, tính dễ hiểu và khả năng thu hút người đọc.

 Anh Dy Khoa tại Đại học Malaya (Malaysia), nơi anh nhận bằng Thạc sĩ Truyền thông khoa học và Thu hút công chúng.

Anh Dy Khoa tại Đại học Malaya (Malaysia), nơi anh nhận bằng Thạc sĩ Truyền thông khoa học và Thu hút công chúng.

“Ưu tiên hai yếu tố sau mà bỏ yếu tố đầu là con đường ngắn nhất dẫn đến truyền thông sai lệch, thứ đang góp phần vào tình trạng ngờ vực khoa học ở nhiều nơi. Nhưng nếu quá bám vào độ chính xác học thuật, sản phẩm truyền thông sẽ trở nên khô cứng, không ai đọc, và mục tiêu phổ biến kiến thức coi như thất bại”, anh Khoa chia sẻ.

Không chỉ đối mặt với bài toán cân bằng giữa khoa học và truyền thông, người làm nghề này còn phải thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của AI. Theo anh Khoa, các công cụ AI có thể hỗ trợ tổng hợp tài liệu, diễn giải thuật ngữ, tạo bản nháp hay điều chỉnh nội dung cho từng nhóm độc giả, giúp người làm nghề tiết kiệm đáng kể thời gian xử lý những công việc mang tính kỹ thuật. Tuy nhiên, một số mô hình AI tạo sinh có thể gặp hiện tượng "ảo giác" (hallucination), tức là tự tạo ra thông tin hoặc trích dẫn không có thật.

Do đó, anh Khoa nhấn mạnh: "AI có thể là trợ lý viết rất tốt, nhưng không bao giờ được phép là người quyết định cuối cùng về tính đúng - sai của một nội dung khoa học”. Việc kiểm chứng, biên tập và chịu trách nhiệm cuối cùng vẫn thuộc về con người.

Bức tranh việc làm và những chức danh công việc "ẩn dạng" tại Việt Nam

Khi truyền thông khoa học ngày càng được chú ý, nhiều bạn trẻ cũng bắt đầu đặt câu hỏi: Học xong ngành này thì sẽ làm ở đâu?

 Anh Dy Khoa cùng sinh viên một lớp học Truyền thông marketing tích hợp (IMC) của Trường ĐH Văn Lang.

Anh Dy Khoa cùng sinh viên một lớp học Truyền thông marketing tích hợp (IMC) của Trường ĐH Văn Lang.

Tại Việt Nam, không dễ tìm thấy những tin tuyển dụng ghi đúng chức danh Science Communicator. Theo anh Khoa, nguyên nhân là các doanh nghiệp và tổ chức thường tuyển theo chức năng công việc thay vì tên chuyên ngành. Vì vậy, công việc này đang "ẩn" dưới nhiều vị trí khác nhau.

Trong báo chí, đó có thể là phóng viên, biên tập viên phụ trách mảng khoa học, sức khỏe, công nghệ hay môi trường. Tại bệnh viện, doanh nghiệp dược phẩm hoặc startup health-tech, người làm nghề có thể đảm nhiệm vai trò Medical Writer, Content Writer y tế hoặc chuyên viên truyền thông sức khỏe. Còn ở viện nghiên cứu, trường đại học hay doanh nghiệp công nghệ, công việc có thể nằm trong các vị trí truyền thông, PR hoặc truyền thông sản phẩm khoa học.

Truyền thông khoa học tập trung vào việc truyền tải các chủ đề liên quan đến khoa học tới nhiều đối tượng khác nhau (như công chúng, người không chuyên, nhà báo hoặc các nhà hoạch định chính sách) nhằm mục tiêu nâng cao hiểu biết về khoa học. Ảnh: rutgers.edu

Truyền thông khoa học tập trung vào việc truyền tải các chủ đề liên quan đến khoa học tới nhiều đối tượng khác nhau (như công chúng, người không chuyên, nhà báo hoặc các nhà hoạch định chính sách) nhằm mục tiêu nâng cao hiểu biết về khoa học. Ảnh: rutgers.edu

Sự thiếu vắng một chức danh chính thức cũng cho thấy truyền thông khoa học vẫn là lĩnh vực mới tại Việt Nam. Trong khi nhiều quốc gia đã có chương trình đào tạo chuyên sâu ở bậc thạc sĩ, tiến sĩ, Việt Nam hiện chủ yếu lồng ghép lĩnh vực này trong Báo chí, Quan hệ công chúng hay Truyền thông đa phương tiện. Điều này tạo ra một khoảng trống nhân sự khi người hiểu khoa học chưa chắc biết cách truyền thông, còn người giỏi truyền thông chưa chắc đủ nền tảng để "dịch" khoa học chính xác.

Theo anh Dy Khoa, đây cũng chính là cơ hội dành cho những người theo đuổi lĩnh vực này. Khi AI, công nghệ sinh học và y tế số ngày càng phát triển, nhu cầu về những nhân sự vừa có nền tảng chuyên môn, vừa biết kể chuyện và truyền tải thông tin chính xác sẽ ngày càng tăng. Những nhân sự giỏi có thể nhận mức thu nhập tốt và khó có khả năng bị thay thế do rào cản gia nhập cao.

Bộ hành trang để sinh viên theo đuổi nghề

Theo anh Dy Khoa, một người làm truyền thông khoa học không thể chỉ dựa vào khả năng viết. Tư duy phản biện và khả năng đọc hiểu khoa học mới là nền tảng quan trọng. Sinh viên cần biết cách đọc một nghiên cứu, hiểu những khái niệm cơ bản như cỡ mẫu, phương pháp nghiên cứu hay độ tin cậy của dữ liệu để không vô tình lan truyền thông tin thiếu kiểm chứng.

 Anh Dy Khoa trong một buổi giảng kỹ năng viết. Viết là kỹ năng quan trọng với người làm truyền thông, trong đó có truyền thông khoa học.

Anh Dy Khoa trong một buổi giảng kỹ năng viết. Viết là kỹ năng quan trọng với người làm truyền thông, trong đó có truyền thông khoa học.

Song song với đó là khả năng kể chuyện trên nhiều nền tảng. Ngoài việc viết bài dài, người trẻ nên làm quen với mạng xã hội, video ngắn và rèn khả năng đọc tài liệu khoa học bằng tiếng Anh để tiếp cận nguồn thông tin gốc.

Kinh nghiệm thực tế cũng là một lợi thế lớn. Việc thực tập hoặc cộng tác với tòa soạn, bệnh viện, viện nghiên cứu hay doanh nghiệp công nghệ không chỉ giúp sinh viên hiểu cách một nội dung khoa học được tạo ra, mà còn là cơ hội xây dựng portfolio và mạng lưới nghề nghiệp từ sớm.

Cuối cùng là đạo đức nghề nghiệp. Trong thời đại AI có thể tạo ra nội dung chỉ trong vài giây, giá trị của một Science Communicator không nằm ở việc viết nhanh đến đâu, mà ở khả năng kiểm chứng thông tin, tôn trọng bằng chứng và phân biệt rõ giữa truyền thông khoa học với quảng cáo trá hình.

Minh Thanh - Ảnh: NVCC

Nguồn HHT: https://hoahoctro.tienphong.vn/truyen-thong-khoa-hoc-nghe-danh-cho-nguoi-me-khoa-hoc-va-thich-ke-chuyen-post1866220.tpo