Từ di sản đến công nghiệp văn hoá - Bài 2: Văn hoá Việt Nam trong cuộc đối thoại quốc tế

Thể thao và Văn hóa · E‑Magazine

Một chuỗi sự kiện từ Festival Thăng Long – Hà Nội đến Hanoi Jazztival hay Lễ hội Văn hoá Thế giới đang mở ra cách tiếp cận mới trong quảng bá văn hóa Việt Nam: không chỉ đưa văn hóa ra thế giới để giới thiệu, mà tạo những không gian để văn hóa Việt Nam gặp gỡ, trao đổi và đối thoại với các nền văn hóa khác.

Trong tiến trình hội nhập quốc tế, văn hóa không còn chỉ được nhìn nhận như một “đối tượng” để quảng bá. Văn hóa trở thành một nguồn lực của hợp tác quốc tế và một thành tố quan trọng tạo dựng hình ảnh quốc gia. Có thể nhận thấy một dòng chảy văn hoá đáng chú ý thời gian này, từ Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II, Hanoi Jazztival 2026 đến Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội – 2026… Chuỗi hoạt động kéo dài từ tháng 9-10/2026, nhưng không phải là những sự kiện tách rời, mà cùng góp phần hình thành một không gian giao lưu văn hóa có tính liên tục. Ở đó, di sản là nền tảng, nghệ thuật là ngôn ngữ và sự gặp gỡ quốc tế là động lực để văn hóa Việt Nam tiếp tục phát triển.

 Các đại biểu thực hiện nghi thức khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ hai - năm 2026. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Các đại biểu thực hiện nghi thức khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ hai - năm 2026. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

01Không gian đối thoại từ di sản và văn hoá

Một trong những thay đổi quan trọng trong tư duy tổ chức các sự kiện văn hóa quốc tế hiện nay là chuyển từ mô hình “giới thiệu một chiều” sang giao lưu và đối thoại. Những sự kiện văn hoá quy mô quốc tế tại Hà Nội cho thấy một hướng đi rộng hơn: Việt Nam chủ động tạo ra không gian để các nền văn hóa cùng hiện diện, cùng biểu đạt và cùng tìm kiếm những điểm tương đồng trong khác biệt. 

Tinh thần ấy được thể hiện khá rõ tại chương trình Giao lưu nghệ thuật quốc tế “Thăng Long – Hà Nội: Nhịp cầu di sản” vừa diễn ra tối 12/9 tại Hoàng thành Thăng Long trong khuôn khổ Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II. Chương trình quy tụ khoảng 300 nghệ sĩ, diễn viên từ nhiều địa phương của Việt Nam cùng các nghệ sĩ, đoàn nghệ thuật đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, với khoảng 5.000 đại biểu, khách mời và khán giả. Điều đáng nói không nằm đơn thuần ở con số quốc gia tham dự. Giá trị của chương trình nằm ở cách các nền văn hóa được đặt cạnh nhau trong cùng một không gian di sản. 

 Khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ hai - năm 2026 với chủ đề: “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” tối 11/9/2026, tại Hoàng thành Thăng Long.Ảnh: Khánh Hòa - TTXVN

Khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ hai - năm 2026 với chủ đề: “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” tối 11/9/2026, tại Hoàng thành Thăng Long.Ảnh: Khánh Hòa - TTXVN

Từ xẩm “Nắng mới Hà Thành”, nghệ thuật Điện Biên, Huế, Đắk Lắk, Hát Bội phương Nam đến Samulnori và múa truyền thống Hàn Quốc, Shamisen kết hợp Beatbox của nghệ sĩ Nhật Bản hay những điệu Bhangra, Gidha của Punjab, sân khấu Hoàng thành - Thăng Long trở thành một không gian đối thoại bằng nghệ thuật. Đó chính là ý nghĩa sâu hơn của hai chữ “nhịp cầu”. Một cây cầu văn hóa không làm các bờ trở thành một; ngược lại, cây cầu giúp mỗi bờ giữ được căn tính của mình nhưng có thể bước sang gặp gỡ một bờ khác. 

Phát biểu tại chương trình, bà Lê Thị Ánh Mai - Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội - nhấn mạnh rằng giao lưu không chỉ là sự gặp gỡ của nghệ sĩ và các sắc màu nghệ thuật, mà còn là dịp để các giá trị văn hóa được kết nối, trao truyền và lan tỏa; để mỗi di sản cùng cất lên tiếng nói của tình hữu nghị, sự hiểu biết và trân trọng những giá trị văn hóa của mỗi dân tộc.

Quan niệm ấy cũng đặt ra một cách nhìn mới về bảo tồn. Di sản không chỉ được bảo vệ bằng việc giữ nguyên hình thức vốn có, mà còn phải được trao truyền, phát huy và sáng tạo để tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại. Khi một chất liệu truyền thống có thể gặp gỡ một ngôn ngữ nghệ thuật mới, nó không mất đi bản sắc; trái lại, có thêm cơ hội được nhận diện bởi những công chúng mới. 

 Biểu diễn nghệ thuật tại lễ khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội 2026. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Biểu diễn nghệ thuật tại lễ khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội 2026. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Việc lựa chọn Hoàng thành Thăng Long làm không gian của các chương trình nghệ thuật quốc tế cũng mang một ý nghĩa đặc biệt. Một không gian từng là trung tâm quyền lực của quốc gia qua nhiều thời kỳ lịch sử nay trở thành nơi những nghệ sĩ đến từ nhiều quốc gia cùng trình diễn. Quá khứ và hiện tại, bản địa và quốc tế, truyền thống và đương đại gặp nhau trong cùng một không gian. Đây cũng là tinh thần xuyên suốt của Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản – Heritage Flow”. 

Festival diễn ra từ ngày 11 đến 20/9 tại nhiều không gian di sản của Thủ đô, hướng tới tôn vinh và quảng bá những giá trị lịch sử – văn hóa của Thăng Long – Hà Nội. “Dòng chảy di sản” vì thế không nên được hiểu như một dòng chảy chỉ quay về quá khứ. Di sản chỉ thực sự sống khi nó tiếp tục đi qua hiện tại và tạo ra những khả năng mới cho tương lai.

Từ góc độ đó, sự hiện diện của nghệ sĩ quốc tế tại Hoàng thành Thăng Long không chỉ làm phong phú chương trình Festival. Quan trọng hơn, nó tạo ra một không gian để văn hóa Việt Nam được nhìn từ bên ngoài, được đặt cạnh những truyền thống khác và cùng tham gia vào một cuộc đối thoại nghệ thuật. Đây là một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy tổ chức sự kiện văn hóa quốc tế: không chỉ quảng bá hình ảnh Việt Nam, mà tạo điều kiện để thế giới bước vào không gian văn hóa Việt Nam và cùng làm nên một câu chuyện chung.

02Jazz - một ngôn ngữ quốc tế để kể câu chuyện Hà Nội

Nếu Festival Thăng Long – Hà Nội lấy di sản làm điểm tựa cho đối thoại thì Hanoi Jazztival 2026 lại mở ra một phương thức khác: dùng một ngôn ngữ âm nhạc có tính quốc tế để kể câu chuyện về Hà Nội và Việt Nam. 

Liên hoan Nhạc Jazz quốc tế Hà Nội năm 2026 mang chủ đề “Jazz Hà Nội – Giai điệu không biên giới”, diễn ra từ ngày 17 đến 19/9 tại nhiều không gian văn hóa của Thủ đô. Điều đáng chú ý là Jazz được đặt vào một cấu trúc rộng hơn một liên hoan biểu diễn. Chương trình bao gồm triển lãm “Jazz & Phố”, workshop về ngôn ngữ Jazz trong âm nhạc truyền thống, tọa đàm quốc tế “Hà Nội và nhạc Jazz”, các đêm diễn, Jazz Jam Session, Jazz đường phố và chương trình Gala.

 Chương trình biểu diễn nhạc Jazz tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ

Chương trình biểu diễn nhạc Jazz tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ

Như vậy, Jazz không chỉ xuất hiện trên sân khấu mà được đưa vào đời sống đô thị. Từ Nhà hát Lớn, Nhà Bát Giác, các trung tâm văn hóa đến câu lạc bộ và không gian công cộng, âm nhạc trở thành một phần của nhịp sống Hà Nội. 

Jazz vốn là một ngôn ngữ âm nhạc có khả năng dung nạp, biến đổi và đối thoại. Khi được đặt cạnh đàn bầu, sáo trúc, những chất liệu âm nhạc truyền thống hoặc các loại hình nghệ thuật dân tộc, Jazz không còn đơn thuần là một dòng nhạc du nhập. Nó trở thành một phương tiện để các nghệ sĩ Việt Nam thử nghiệm cách kể câu chuyện của chính mình bằng một ngôn ngữ mà công chúng quốc tế có thể tiếp nhận.  Từ góc nhìn này, mục tiêu xây dựng “Jazz Việt” không phải là biến âm nhạc truyền thống thành Jazz một cách cơ học, mà là tìm ra khả năng đối thoại giữa hai hệ ngôn ngữ nghệ thuật. 

Bà Lê Thị Ánh Mai - đại diện BTC - cho rằng Hanoi Jazztival 2026 được xây dựng theo định hướng phát triển một sự kiện văn hóa có tầm vóc quốc tế, góp phần thúc đẩy công nghiệp văn hóa và hiện thực hóa cam kết của Hà Nội với danh hiệu Thành phố Sáng tạo UNESCO. Bà kỳ vọng sự kiện từng bước trở thành một thương hiệu văn hóa riêng của Hà Nội, tạo tiếng vang trong khu vực và hướng tới tầm quốc tế. 

Đáng chú ý, bà Lê Thị Ánh Mai cũng nhấn mạnh mong muốn đưa Jazz ra khỏi những sân khấu nhỏ, khép kín để hòa vào các không gian công cộng và nhịp sống của Thủ đô. 

Đây không chỉ là câu chuyện mở rộng khán giả cho một dòng nhạc. Về bản chất, đó là cách một thành phố sử dụng nghệ thuật để xây dựng đời sống văn hóa đô thị. Một thành phố sáng tạo không chỉ cần những thiết chế văn hóa lớn. Thành phố ấy cần những không gian để nghệ sĩ thử nghiệm, công chúng tiếp cận nghệ thuật và các cộng đồng sáng tạo trong nước có cơ hội kết nối với mạng lưới quốc tế. Vì vậy, Hanoi Jazztival có thể được nhìn như một phép thử đối với khả năng của Hà Nội trong việc biến một loại hình nghệ thuật quốc tế thành một sản phẩm văn hóa có bản sắc địa phương.

03Khi Việt Nam chủ động kiến tạo nền tảng giao lưu

Nếu Festival Thăng Long – Hà Nội cho thấy văn hóa Việt Nam có thể đối thoại với thế giới ngay trong không gian di sản, còn Hanoi Jazztival cho thấy một ngôn ngữ nghệ thuật quốc tế có thể được Việt Nam tiếp nhận và tái tạo, thì Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai mở rộng quy mô của cuộc đối thoại lên một cấp độ khác. 

Theo kế hoạch, Lễ hội diễn ra từ ngày 1 đến 4/10/2026 với chủ đề “Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai” (Converging Heritage – Shaping the Future). Tính đến ngày 7/8, đã có 39 quốc gia xác nhận tham gia, thuộc cả 5 châu lục. Nhưng quy mô quốc tế không phải là giá trị duy nhất cần được nhìn nhận. 

 Đoàn nghệ thuật Ấn Độ biểu diễn tại Festival Thăng Long - Hà Nội 2026. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Đoàn nghệ thuật Ấn Độ biểu diễn tại Festival Thăng Long - Hà Nội 2026. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Đây được định hướng là một sự kiện văn hóa đối ngoại quốc tế do Việt Nam chủ trì, nhằm kết nối các quốc gia, thúc đẩy giao lưu nhân dân, tăng cường hiểu biết và tin cậy, đồng thời quảng bá văn hóa Việt Nam và tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới. Điều này đúng với tinh thần Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về Phát triển văn hoá Việt Nam: “Xây dựng và phát triển văn hoá phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước, hướng đến mục tiêu 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập Nước; khẳng định vị thế, tầm vóc nền văn hoá Việt Nam xứng tầm một quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có truyền thống văn hoá, văn hiến lâu đời, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại”.

 Ca sĩ Tùng Dương biểu diễn tại "Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội" lần thứ nhất năm 2025. Ảnh: Quốc Khánh - TTXVN

Ca sĩ Tùng Dương biểu diễn tại "Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội" lần thứ nhất năm 2025. Ảnh: Quốc Khánh - TTXVN

Lễ hội Văn hoá Thế giới lần thứ hai được tổ chức trên cơ sở kế thừa thành công của lần thứ nhất và hướng tới mục tiêu xây dựng thương hiệu lễ hội văn hóa quốc tế, từng bước đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn về văn hóa – nghệ thuật trong khu vực và thế giới. Ở đây xuất hiện một chuyển biến quan trọng trong tư duy đối ngoại văn hóa: Việt Nam không chỉ tham gia vào những sân chơi văn hóa quốc tế do các quốc gia khác tổ chức, mà đang từng bước chủ động tạo ra sân chơi của mình. 

 Ca sĩ Hoàng Thuỳ Linh trình bày ca khúc "Gieo quẻ" tại chương trình khai mạc "Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội" lần thứ nhất năm 2025. Ảnh: Hoàng Hiếu - TTXVN

Ca sĩ Hoàng Thuỳ Linh trình bày ca khúc "Gieo quẻ" tại chương trình khai mạc "Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội" lần thứ nhất năm 2025. Ảnh: Hoàng Hiếu - TTXVN

Chủ đề của Lễ hội Văn hóa Thế giới lần thứ hai chứa đựng một logic phát triển đáng chú ý: “Hội tụ di sản” trước hết là sự gặp gỡ của các nền văn hóa. Nhưng “kiến tạo tương lai” cho thấy mục tiêu không dừng ở việc trưng bày hay trình diễn những giá trị đã có. Theo thông tin từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, lễ hội dự kiến có nhiều nhóm hoạt động: Lễ hội âm nhạc “Hòa nhạc năm châu”, Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu”, Lễ hội “Ẩm thực năm châu”, chương trình chiếu phim và Khu vực trải nghiệm sáng tạo từ di sản với Festival Games Quốc tế… 

Cấu trúc ấy cho thấy văn hóa đang được tiếp cận như một hệ sinh thái. Âm nhạc kết nối nghệ sĩ. Điện ảnh mở rộng khả năng kể chuyện. Ẩm thực đưa văn hóa đến gần đời sống. Lễ hội đường phố tạo tương tác trực tiếp với cộng đồng. Không gian sáng tạo từ di sản lại mở thêm một hướng tiếp cận đối với công chúng trẻ. 

 Ca sĩ Trúc Nhân biểu diễn tại chương trình khai mạc "Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội" lần thứ nhất năm 2025. Ảnh: Hoàng Hiếu - TTXVN

Ca sĩ Trúc Nhân biểu diễn tại chương trình khai mạc "Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội" lần thứ nhất năm 2025. Ảnh: Hoàng Hiếu - TTXVN

Đặc biệt, việc kết hợp di sản với công nghệ, trò chơi và trải nghiệm sáng tạo cho thấy một quan niệm mới về cách công chúng tiếp nhận văn hóa. Di sản không nhất thiết chỉ được “xem”. Di sản có thể được trải nghiệm, tương tác, chuyển hóa thành chất liệu của sản phẩm sáng tạo mới. Đây chính là điểm giao giữa văn hóa và công nghiệp văn hóa.

Lễ hội Văn hóa Thế giới lần thứ hai được đặt trong mối quan hệ với phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch và kinh tế sáng tạo. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xác định sự kiện góp phần phát triển thương hiệu văn hóa quốc tế và định vị Hà Nội là trung tâm giao lưu văn hóa quốc tế. Hoàng thành Thăng Long, Nhà hát Lớn, Hồ Gươm, các bảo tàng, trung tâm nghệ thuật, câu lạc bộ Jazz và các không gian công cộng đang được kết nối thành một mạng lưới văn hóa đa dạng. Một nghệ sĩ Nhật Bản có thể mang Shamisen đến Hoàng thành Thăng Long. Một nghệ sĩ Hàn Quốc có thể trình diễn Samulnori bên cạnh nghệ thuật Việt Nam. Nghệ sĩ Punjab có thể mang Bhangra đến với công chúng Hà Nội. Nghệ sĩ Jazz quốc tế có thể cùng nghệ sĩ Việt Nam tìm kiếm một ngôn ngữ âm nhạc mới. Và trong tháng 10, nhiều đoàn nghệ thuật từ các quốc gia có thể cùng hiện diện trong một lễ hội do Việt Nam chủ trì. 

 Biểu diễn nghệ thuật tại lễ khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội 2026. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Biểu diễn nghệ thuật tại lễ khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội 2026. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Những cuộc gặp ấy tạo nên một thứ “đối thoại văn hóa” không cần quá nhiều lời. Trong đối thoại ấy, Việt Nam không chỉ nói về mình. Việt Nam cũng lắng nghe. Đó là điểm khác biệt giữa quảng bá và giao lưu. Quảng bá giúp thế giới biết Việt Nam có gì. Đối thoại giúp Việt Nam hiểu thế giới có gì và từ đó hiểu sâu hơn chính mình. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, câu chuyện bảo vệ bản sắc văn hóa thường được đặt cạnh nguy cơ hòa tan. Nhưng thực tế cho thấy, bản sắc không nhất thiết được bảo vệ bằng cách khép kín. 

 Biểu diễn nghệ thuật tại lễ khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội 2026. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Biểu diễn nghệ thuật tại lễ khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội 2026. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Nhìn từ chuỗi các sự kiện văn hoá tại Hà Nội, điều này thể hiện khá rõ. Một festival có thể tạo ra sự chú ý trong vài ngày. Nhưng một thương hiệu văn hóa quốc tế cần được xây dựng trong nhiều năm. Hanoi Jazztival được Hà Nội xác định là bước khởi đầu hướng tới một liên hoan Jazz quốc tế thường niên. Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai cũng được định hướng phát triển thành sự kiện văn hóa đối ngoại thường niên và thương hiệu văn hóa quốc tế. Đây là hướng đi có ý nghĩa đối với chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa của Thủ đô. Với Hà Nội, lợi thế không chỉ nằm ở vị thế “trái tim của cả nước” mà còn ở một hệ thống di sản dày đặc, đời sống nghệ thuật đa dạng, cộng đồng sáng tạo đang phát triển và vị thế Thành phố Sáng tạo của UNESCO. 

Nhưng chính những lợi thế ấy cũng đặt ra yêu cầu cao hơn: mỗi sự kiện quốc tế phải có dấu ấn riêng, tránh trùng lặp, tránh tư duy “quốc tế” chỉ được đo bằng số lượng đoàn nước ngoài. Quốc tế hóa một sự kiện văn hóa, xét đến cùng, không phải là làm cho nó trở nên xa lạ với công chúng Việt Nam. Ngược lại, đó là làm cho những giá trị Việt Nam trở nên đủ hấp dẫn để có thể bước vào cuộc trò chuyện rộng lớn của thế giới. 

Văn hóa Việt Nam không chỉ đứng trên sân khấu để được thế giới nhìn thấy. Văn hóa Việt Nam bước vào một cuộc đối thoại, trong đó mỗi nền văn hóa mang theo bản sắc của mình, cùng chia sẻ những giá trị, học hỏi những cách biểu đạt mới và tìm kiếm những điểm gặp gỡ. Với Việt Nam, câu chuyện ấy có một nền tảng đặc biệt: một nền văn hóa lâu đời, giàu bản sắc, thống nhất trong đa dạng và luôn có khả năng tiếp biến. Vấn đề đặt ra hôm nay là làm thế nào để nguồn vốn văn hóa ấy có tiếp tục được chuyển hóa thành những giá trị mới.

Festival Thăng Long – Hà Nội cho thấy di sản có thể trở thành nhịp cầu. Hanoi Jazztival cho thấy âm nhạc có thể trở thành ngôn ngữ không biên giới. Lễ hội Văn hóa Thế giới cho thấy Việt Nam có thể chủ động tạo dựng một nền tảng để các nền văn hóa gặp nhau. Ba sự kiện, ba cách tiếp cận, nhưng cùng gợi mở một hướng đi: từ quảng bá văn hóa đến kiến tạo không gian văn hóa; từ giới thiệu bản sắc đến đối thoại bản sắc; từ tổ chức sự kiện đến xây dựng thương hiệu văn hóa quốc tế.  

Bài viết:MINH ANH

Ảnh:THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Trình bày:PHẠM HUY

BÁO THỂ THAO VÀ VĂN HÓA

Nguồn Báo Thể Thao & Văn Hóa: https://thethaovanhoa.vn/tu-di-san-den-cong-nghiep-van-hoa-bai-2-van-hoa-viet-nam-trong-cuoc-doi-thoai-quoc-te-20260917110330724.htm