Từ hạt gạo đến thương hiệu làng nghề: Hơn nửa thế kỷ giữ vị bún Đông Quang
Nghề làm bún bánh ở Đông Quang (thôn Hà Hải, xã Lĩnh Toại, Thanh Hóa) đã trở thành sinh kế của nhiều hộ dân. Hơn nửa thế kỷ sau, những sợi bún vẫn giữ vị gạo quen thuộc, nhưng cách làm đã thay đổi: máy móc thay dần sức người, sản phẩm có thương hiệu, thị trường mở rộng...

Làng nghề bún bánh Đông Quang đã tồn tại hơn nửa thế kỷ.
Từ hạt gạo đến thương hiệu làng nghề
Buổi sáng ở Hà Hải thường bắt đầu từ rất sớm. Khi nhiều con đường trong làng còn yên ắng, tại các cơ sở làm bún, gạo đã được chuẩn bị, ngâm, xay thành bột rồi qua nhiều công đoạn trước khi tạo thành những sợi bún trắng mềm.
Với người ngoài, làm bún có vẻ chỉ là câu chuyện của gạo và nước. Nhưng người trong nghề hiểu rằng chất lượng của một mẻ bún phụ thuộc vào từng khâu. Gạo phải phù hợp, bột đạt độ chuẩn, thời gian xử lý phải chính xác. Chỉ một công đoạn sai lệch, sợi bún có thể bị bở, cứng hoặc không đạt độ dai cần thiết.
Theo tìm hiểu, nghề làm bún bánh bắt đầu xuất hiện ở thôn Đông Yên, nay là thôn Hà Hải, từ năm 1973. Thời điểm đó, người dân chủ yếu tận dụng gian bếp gia đình, tự làm từng công đoạn rồi mang bún bán trong vùng. Sản phẩm chưa có bao bì, nhãn hiệu; để giữ khách, người làm nghề chủ yếu dựa vào chất lượng và uy tín.
Theo thời gian, bún Đông Quang hình thành nét riêng với vị gạo tẻ khá rõ, màu bún tự nhiên, không trắng bóng bất thường và mùi thơm nhẹ khi vừa ra lò. Những đặc điểm giản dị ấy tạo nên dấu ấn của sản phẩm trong đời sống người dân địa phương.
Từ khoảng năm 2005-2010, các hộ bắt đầu đầu tư máy móc để giảm sức lao động. Từ năm 2010 đến nay, một số cơ sở tiếp tục đưa dây chuyền tự động vào sản xuất, nâng công suất và giúp các mẻ bún đồng đều hơn.

Những lá bún bánh đượ làm từ những hạt gạo ngon, tạo nên hương vị đặc trưng của bún bánh Đông Quang.
Cơ sở Bún Thanh Đàm cũng phát triển trong quá trình chuyển đổi đó. Từ nền tảng nghề truyền thống, cơ sở từng bước đầu tư máy móc, chú trọng quy trình sản xuất, chất lượng và hoàn thiện sản phẩm. Việc Bún Thanh Đàm được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao là một dấu mốc cho thấy sản phẩm làng nghề đang chuyển từ hàng hóa quen thuộc trong vùng sang sản phẩm có nhận diện và tiêu chuẩn rõ ràng hơn.
Ông Trịnh Thanh Đàm, chủ cơ sở Bún Thanh Đàm, cho biết làm bún nhìn qua tưởng đơn giản nhưng để giữ chất lượng ổn định lại phụ thuộc vào từng công đoạn.
“Làm thực phẩm thì trước hết phải nghĩ đến người sử dụng. Mình làm cho người khác ăn cũng phải đặt sự an toàn, sạch sẽ lên trước. Nghề đã gắn với gia đình và quê hương nên tôi muốn giữ được cái vị bún truyền thống, nhưng cách làm phải ngày càng bài bản hơn”, ông Đàm chia sẻ.

Hộ gia đình như anh Trịnh Thanh Đàm đưa máy móc vào sản xuất để giảm chi phí nhân công, tăng năng suất lao động nhưng vẫn giữ nguyên các công đoạn làm bún truyền thống.
Giải bài toán môi trường khi làng nghề ngày càng lớn
Khi sản xuất còn nhỏ lẻ, mỗi gia đình có thể tự xử lý nước thải trong phạm vi hộ. Nhưng khi sản lượng tăng, vấn đề môi trường trở thành bài toán chung của cả làng nghề.
Trước năm 2019, các hộ sản xuất chủ yếu sử dụng hầm biogas tại chỗ để chứa và xử lý nước thải. Khi quy mô sản xuất tăng, một số bể xuống cấp, công suất không còn đáp ứng, dẫn đến tình trạng nước thải xử lý không kịp và phát sinh mùi.
Các hộ sau đó góp kinh phí xây dựng bể chứa chung có chức năng lắng, lọc và xử lý. Tuy nhiên, đến đầu năm 2021, hệ thống tiếp tục quá tải. Thực tế này cho thấy việc xử lý nước thải tại một làng nghề sản xuất thực phẩm không thể chỉ dựa vào những giải pháp nhỏ lẻ của từng hộ.
Trước yêu cầu đó, chính quyền địa phương cùng các hộ sản xuất tìm phương án xử lý phù hợp. Hệ thống bể chứa chung được cải tạo; địa phương phối hợp với Trung tâm Quan trắc môi trường áp dụng công nghệ xử lý hiệu quả hơn, đồng thời bê tông hóa hệ thống mương dẫn nước thải sau xử lý.
Năm 2024, hệ thống được đưa vào sử dụng, góp phần cải thiện môi trường tại khu vực làng nghề. Đây cũng là bước chuyển đáng chú ý trong hành trình phát triển của bún Đông Quang. Khi một nghề truyền thống đã bước sang quy mô hàng hóa, chất lượng sản phẩm không còn chỉ nằm ở một sợi bún ngon, mà còn ở nguyên liệu, an toàn thực phẩm, quy trình sản xuất và trách nhiệm với môi trường sống.

Những sợi bún thơm ngon được những ngời dân làng nghề bún bánh Đông Quang sản xuất đưa ra thị trường tiêu thụ.
Theo ông Hoàng Huy Tự - Chủ tịch UBND xã Lĩnh Toại cho biết: nghề làm bún bánh ở Đông Quang không chỉ tạo ra sản phẩm đặc trưng mà còn mang lại việc làm, thu nhập cho người dân.
Hiện làng nghề có 9 hộ sản xuất bằng máy móc hiện đại cùng nhiều hộ tham gia phân phối. Bình quân mỗi ngày, các cơ sở cung cấp khoảng 9 tấn bún, bánh, tạo doanh thu khoảng 1,8-2,2 tỷ đồng. Nghề tạo sinh kế cho hàng trăm lao động, với mức thu nhập khoảng 4-5 triệu đồng/người/tháng.
Cùng với sự phát triển của sản xuất, yêu cầu đặt ra với địa phương cũng lớn hơn. Theo ông Tự, bên cạnh hỗ trợ phát triển nghề, địa phương phải đồng hành giải quyết những vấn đề phát sinh, nhất là vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm. Đây là điều kiện để sản phẩm làng nghề giữ được uy tín khi thị trường ngày càng mở rộng.
Từ một nghề bắt đầu trong những gian bếp gia đình năm 1973, bún bánh Đông Quang đã đi qua hơn nửa thế kỷ. Những đôi tay từng làm bún hoàn toàn thủ công nay có sự hỗ trợ của máy móc; những sản phẩm từng chỉ bán quanh làng đã trở thành hàng hóa có thương hiệu, trong đó Bún Thanh Đàm được công nhận OCOP 3 sao.
Cách làm đã thay đổi để thích ứng với thị trường, nhưng giá trị cốt lõi của nghề vẫn nằm ở hạt gạo và vị bún quen thuộc. Giữ được hương vị ấy, đồng thời sản xuất an toàn, bài bản và thân thiện hơn với môi trường, là cách để nghề cũ tiếp tục có chỗ đứng trong đời sống mới.

