Từ tìm người tài đức đến chiến lược nhân tài trong kỷ nguyên mới

Hướng tới kỷ niệm 80 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Tìm người tài đức” đăng trên Báo Cứu Quốc ngày 20/11/1946, những lời Người căn dặn về phát hiện, trọng dụng người hiền tài vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự. Tám mươi năm sau, khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới và đang xây dựng Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng, phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, câu chuyện nhân tài một lần nữa được đặt ở vị trí đặc biệt.

Đó là: không chỉ tìm được người giỏi, quan trọng hơn là tạo ra một thể chế đủ rộng mở, một môi trường đủ hấp dẫn và những việc lớn đủ sức khơi dậy khát vọng cống hiến.

“Kiến thiết cần phải có nhân tài”

Ngày 20/11/1946, trong bối cảnh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời hơn một năm, chính quyền cách mạng còn non trẻ, đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, Người viết trên Báo Cứu Quốc: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài”. Hai câu ngắn gọn đã đặt con người, đặc biệt là người tài, vào vị trí của một nguồn lực quyết định đối với công cuộc dựng xây đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan về Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan về Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Điều đáng chú ý là Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong số 20 triệu đồng bào “chắc không thiếu người có tài có đức”. Đó là niềm tin sâu sắc vào nhân dân và cũng là một cách nhìn rất rộng về nguồn nhân tài: người có tài có thể ở bất cứ đâu trong xã hội. Một trong những câu đáng suy ngẫm nhất của bài viết là lời tự nhận rất thẳng thắn: “E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”.

“Nghe không đến, thấy không khắp” là cách diễn đạt giản dị nhưng hàm chứa một vấn đề lớn của quản trị quốc gia: người tài có thể tồn tại nhưng cơ chế phát hiện chưa đủ tốt; người có năng lực có thể sẵn sàng cống hiến nhưng chưa có con đường để xuất hiện; những tài năng nằm ngoài các địa chỉ quen thuộc rất dễ bị bỏ sót nếu cách tìm kiếm, tuyển chọn và đánh giá còn khép kín.

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh không đổ lỗi cho người tài vì chưa tìm đến Chính phủ. Người nhận đó là “khuyết điểm” của Chính phủ. Đằng sau thái độ chịu trách nhiệm của người đứng đầu là một quan niệm rất tiến bộ: trong chính sách nhân tài, Nhà nước phải chủ động tìm kiếm, phát hiện, mở đường và tạo cơ hội để nhân tài xuất hiện. Bởi vậy, ngay sau lời nhận khuyết điểm, Người yêu cầu các địa phương phải “lập tức điều tra” nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc “ích nước lợi dân”, thì báo cáo cho Chính phủ. Hai chữ “lập tức” cho thấy tìm người tài là nhiệm vụ cấp thiết của chính quyền trong công cuộc kiến thiết quốc gia.

Cách Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định người tài cũng rất đáng suy ngẫm. Người không chỉ nói đến “tài”, mà đặt tài cùng với đức; không chỉ quan tâm danh tiếng, bằng cấp hay vị trí xã hội, quan trọng hơn là người ấy “có thể làm được những việc ích nước lợi dân”. “Ích nước lợi dân” vì thế trở thành thước đo: tài năng phải được thể hiện bằng khả năng giải quyết công việc, bằng kết quả và giá trị tạo ra cho cộng đồng.

Một chi tiết khác tưởng nhỏ nhưng rất sâu sắc là Người yêu cầu khi báo cáo về người tài phải nói rõ “tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở”. Trong đó, hai chữ “nguyện vọng” gợi mở một cách nhìn rất nhân văn và hiện đại về sử dụng con người. Muốn dùng người đúng không chỉ cần biết người đó có thể làm gì, mà còn phải hiểu họ mong muốn làm gì, muốn cống hiến ở đâu, sở trường và khát vọng của họ là gì. Trọng dụng là tạo ra sự gặp nhau giữa năng lực của cá nhân, nguyện vọng cống hiến của họ và nhu cầu phát triển của quốc gia.

Từ bài viết ngắn ấy có thể thấy một tư tưởng xuyên suốt: tìm được người tài mới chỉ là điểm bắt đầu. Phải biết người, hiểu người, tin người, dùng đúng người và đặt người vào đúng công việc thì tài năng mới thực sự trở thành sức mạnh của đất nước. Tám mươi năm đã qua, hoàn cảnh lịch sử đã thay đổi rất nhiều, nhưng câu hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra vẫn còn nguyên giá trị: chúng ta đã thực sự “nghe đến”, “thấy khắp” những người có tài có đức trong xã hội hay chưa?

Từ tìm người tài đến kiến tạo hệ sinh thái nhân tài

Nếu năm 1946, yêu cầu hàng đầu là tập hợp hiền tài để bảo vệ chính quyền cách mạng và kiến thiết một quốc gia vừa giành được độc lập, thì hôm nay đất nước đứng trước một nhiệm vụ kiến thiết với tầm vóc mới. Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Những mục tiêu ấy không thể đạt được chỉ bằng gia tăng vốn đầu tư, khai thác thêm tài nguyên hay tiếp tục dựa chủ yếu vào những lợi thế truyền thống. Cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng là cạnh tranh về tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị và trên hết là chất lượng con người.

Chính vì vậy, việc xây dựng Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn cần được nhìn nhận không chỉ như một chính sách nhân sự, mà là một bộ phận của chiến lược phát triển quốc gia. Ngày 24/8/2026, tại cuộc làm việc về chiến lược này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh nhân tài là “nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia”; việc nhận diện phải dựa chủ yếu vào phẩm chất, năng lực thực tế, tư duy sáng tạo, sản phẩm, thành tích, uy tín nghề nghiệp và giá trị cống hiến, không đồng nhất nhân tài với bằng cấp, học hàm, học vị hay chức vụ. Tinh thần ấy có sự gặp gỡ rất sâu sắc với tư tưởng Hồ Chí Minh tám thập kỷ trước: người tài trước hết phải được nhận diện bằng thực tài và khả năng làm những việc có ích cho đất nước, Nhân dân.

Điều này càng có ý nghĩa khi đất nước đứng trước những bài toán mới: làm chủ công nghệ chiến lược, phát triển trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học; xây dựng doanh nghiệp có sức cạnh tranh toàn cầu; phát triển công nghiệp văn hóa; nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và đổi mới quản trị quốc gia. Những bài toán mới đòi hỏi những con người có khả năng đưa ra cách giải mới, dám nghĩ khác và đủ bản lĩnh chịu trách nhiệm về sáng tạo của mình.

Vì thế, chiến lược nhân tài trong kỷ nguyên mới phải mở rộng nguồn tìm kiếm. Tinh thần “nghe không đến, thấy không khắp” cần được chuyển hóa thành năng lực tìm kiếm nhân tài của thời đại số. Chúng ta cần những cơ sở dữ liệu có khả năng kết nối người giỏi với những nhiệm vụ đất nước đang cần; những mạng lưới chuyên gia trong nước và quốc tế; sự liên thông giữa Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu; những cơ chế để nhân lực có thể dịch chuyển linh hoạt giữa khu vực công và khu vực tư. Quan trọng hơn, phải chuyển từ cách tìm người theo những chiếc ghế có sẵn sang tìm người cho những bài toán cụ thể, từ tuyển dụng theo hồ sơ sang lựa chọn bằng sản phẩm, thành tích và khả năng giải quyết vấn đề.

Nhưng phát hiện nhân tài vẫn chưa phải việc khó nhất. Khó hơn là trọng dụng. Có người tài nhưng không giao việc lớn thì tài năng sẽ bị lãng phí; giao việc nhưng không trao quyền thì khó có sáng tạo; trao quyền nhưng không cung cấp nguồn lực, dữ liệu, phương tiện và đội ngũ cộng sự thì khó tạo ra sản phẩm. Ngược lại, có chính sách đãi ngộ tốt nhưng môi trường làm việc thiếu công bằng, còn tâm lý cục bộ, đố kỵ, sợ người giỏi hơn mình, thì người tài cũng khó ở lại và càng khó phát huy hết khả năng.

Bởi vậy, cần chuyển mạnh từ tư duy “thu hút người tài” sang “kiến tạo hệ sinh thái để tài năng phát triển”. Một hệ sinh thái nhân tài đúng nghĩa phải khiến người có năng lực cảm nhận được rằng họ có cơ hội làm những việc lớn; được đánh giá công bằng bằng kết quả; được quyền thử nghiệm những ý tưởng mới; được chấp nhận những rủi ro hợp lý của sáng tạo; được hưởng thành quả tương xứng; đồng thời, phải chịu trách nhiệm rõ ràng đối với quyền hạn và nguồn lực được giao. Tiền lương và chế độ đãi ngộ rất quan trọng, nhưng chưa đủ. Với nhiều người tài, động lực lớn còn là được làm công việc có ý nghĩa, được giải quyết những bài toán khó và được nhìn thấy kết quả lao động của mình góp phần tạo nên thay đổi tích cực cho đất nước.

Đó cũng là ý nghĩa hiện đại của hai chữ “nguyện vọng” trong bài “Tìm người tài đức”: hiểu đúng sở trường, động lực và khát vọng để giao đúng việc, tạo đúng môi trường, đánh giá đúng kết quả. Khi cá nhân tìm thấy ý nghĩa trong công việc và quốc gia đặt tài năng vào đúng nơi cần thiết, lợi ích của người tài và lợi ích của đất nước sẽ gặp nhau.

Một chiến lược nhân tài thành công không thể chỉ đo bằng số người được tuyển dụng hay số chuyên gia được mời về. Thước đo phải là những công trình, công nghệ, sản phẩm mới, những chính sách tốt hơn và những vấn đề của đất nước, của Nhân dân được giải quyết hiệu quả hơn. Xa hơn, cần hình thành văn hóa trọng dụng nhân tài: quý trọng năng lực, tôn trọng khác biệt, khuyến khích sáng tạo và không để rào cản hành chính hay tâm lý cục bộ làm mất đi cơ hội cống hiến.

Từ lời kêu gọi “Tìm người tài đức” năm 1946 đến chiến lược nhân tài trong kỷ nguyên mới là một hành trình tám mươi năm, nhưng điểm xuất phát và đích đến vẫn gặp nhau ở một chân lý giản dị: muốn kiến thiết đất nước phải có nhân tài. Điều chúng ta cần làm hôm nay là phải biến chân lý ấy thành những thể chế cụ thể, những cơ chế đủ mạnh và một môi trường đủ hấp dẫn để mọi người Việt Nam có năng lực và khát vọng đều có cơ hội được phát hiện, phát triển và cống hiến. Bởi trong một thế giới cạnh tranh ngày càng quyết liệt bằng trí tuệ và sáng tạo, khả năng nhìn thấy, tin tưởng người tài và trao cho người tài cơ hội làm những việc lớn sẽ quyết định chúng ta có thể đi nhanh và đi xa đến đâu trên con đường hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/tu-tim-nguoi-tai-duc-den-chien-luoc-nhan-tai-trong-ky-nguyen-moi-10429247.html