Từ lều trọ học 'nuôi chữ' đến ngôi trường của những ước mơ (Bài 1): Giữ con chữ giữa mù sương
Một thời, giữa mây mù biên giới, con chữ được giữ lại trong những túp lều ghép tạm. Có những bước chân thầy cô băng rừng đi 'xin trò'; hay nỗ lực 'cõng đá' dựng trường... Đó là quãng thời gian giáo dục vùng cao xứ Thanh chông chênh, khi mỗi lớp học được dựng lên từ thiếu thốn, mỗi học trò đến lớp là một nỗ lực vượt lên nghịch cảnh. Dấu ấn của một thời gian khó ấy, đến nay vẫn in hằn trong ký ức của lớp thầy cô tóc đã điểm bạc.

Những túp lều “trọ học, nuôi chữ” ở Trường PTDT bán trú THCS Trung Lý. Ảnh: tư liệu
Nhớ thời dựng lều “nuôi chữ”
Gần hai thập kỷ trôi qua, bức tranh về giáo dục vùng cao xứ Thanh một thời gian khó vẫn còn vẹn nguyên ký ức. Đó là chuyến tác nghiệp ngược các xã biên giới Trung Lý, Nhi Sơn, Mường Lý... với cái lạnh ẩm của sương núi, mùi ngai ngái của khói bếp ám vào từng vách lều. Con đường độc đạo năm xưa, dọc hai bên triền dốc là những dãy lều dựng tạm, nơi học sinh từ các bản giáp biên xuống gần trường “trọ học, nuôi chữ”. Chiều xuống rất nhanh, những túp lều thấp thoáng trong sương mờ. Vách nứa mỏng thưa, ánh lửa từ bếp củi hắt ra leo lét. Sau những giờ lên lớp, các em lại trở về lều, tự nấu cơm, gùi nước, sống những ngày tự lập không có gia đình bên cạnh.
Thầy giáo Đoàn Văn Sơn, nguyên Hiệu trưởng Trường PTDT bán trú THCS Trung Lý, xã Trung Lý nói với tôi: “Các học sinh người Mông đến lớp rất ít, học sinh nữ thì gần như vắng bóng. Muốn có trò, thầy cô phải đi bộ vào từng bản, vận động con em đến trường, trong khi nhiều gia đình vẫn nghĩ cái chữ chưa nuôi được cái bụng”. Thời điểm ấy chính sách hỗ trợ cho học sinh còn rời rạc, bữa ăn, chỗ ở cho các em gần như tự xoay xở. Từ khi có các chính sách hỗ trợ học sinh bán trú theo Quyết định 85/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành thì việc đến lớp của các em học sinh mới bớt phần chênh vênh hơn.
Trong lớp những học trò năm ấy, thầy Sơn đã dẫn tôi gặp Thào A Pua, cậu học sinh người Mông ở bản Pa Búa, sáng dạ và đặc biệt ham cái chữ. Nhưng A Pua cũng là con cả trong gia đình có tới 10 anh chị em, nên em từng bị gia đình giữ lại ở nhà lên nương, làm rẫy. “Nó đi học thì ai lo cái ăn cho mấy đứa em”, bố mẹ A Pua nói gắt gỏng khi thầy cô đến vận động. Phải nhiều lần thuyết phục, từ thầy giáo đến trưởng bản, gia đình A Pua mới xuôi bụng để con trở lại lớp. Ngày xuống trường, A Pua vẫn gùi theo bao gạo sau lưng, nhưng lần này là đi để ở lại với con chữ, với ước mơ trở thành thầy giáo.
Nếu A Pua đến lớp từ sự bền bỉ vận động của thầy cô, thì trường hợp của Sùng A Chai, cậu học trò mới 12 tuổi, ở bản Tà Cóm, lại phải tự mình giành giật cơ hội học tập khi bị gia đình kéo ra khỏi lớp học bởi tục tảo hôn. Năm 2007, A Chai bị bố mẹ bắt về lấy vợ như đã sắp đặt sẵn. Suốt những tháng ngày không được đến lớp, A Chai nhớ các bạn, nhớ thầy cô. Nhìn ngôi trường phía dưới chân núi ẩn hiện trong mây mờ, A Chai quyết định khăn gói rời nhà xuống trường. Quyết tâm của A Chai nhận được sự hỗ trợ của thầy cô, bản làng. Bố mẹ A Chai buộc vào thế phải chấp nhận. Còn vợ A Chai thì động viên chồng học tiếp, cô sẽ ở nhà thay anh lo việc cho gia đình.
Phía sau hai câu chuyện năm ấy, trong những túp lều tạm bợ quanh trường, còn nhiều phận học trò lặng lẽ “nuôi chữ”. Mỗi lều vài ba em, mỗi em một số phận. Đầu tháng, các em gùi gạo xuống trường, có em cả tháng mới về nhà một lần. Những ngày cuối tháng, gạo ăn vơi dần, các em lại san sẻ cho nhau, thầy cô cũng sẻ chia. “Giữ một đứa trẻ ở lại lớp, thời điểm ấy, không chỉ là trách nhiệm, mà là một hành trình gian nan”, thầy Sơn nói. Trong lớp sương dày đặc, con chữ không đến bằng lời kêu gọi, mà bằng những bước chân bền bỉ vào từng bản, và bằng chính sự đam mê con chữ của chính các em.
“Gùi đá” xây trường trên đỉnh Cao Sơn
Nếu những lán “trọ học nuôi chữ” nơi biên giới Mường Lát (cũ) là một lát cắt của hành trình giữ chân học sinh với lớp, thì ở một lát cắt khác, trên đỉnh Cao Sơn (xã Cổ Lũng), hành trình ấy còn xa hơn. Không chỉ giữ trò, mà người “gieo chữ” còn dựng nên cả một mái trường kiên cố từ sự chung tay. Đó là câu chuyện của gần 20 năm trước, khi đặt chân lên vùng đất nằm biệt lập giữa những dãy Pha Chiến, Pòng Mứu, Pòng Pa Có, thầy Trần Ngọc Hải, quê xã Biện Thượng, chỉ nghĩ đơn giản: “Lên dạy vài năm rồi sẽ xin về”. Nhưng rồi điều ấy không như dự liệu, không phải vì thầy không có cơ hội trở về, mà thầy đã chọn là người ở lại.

Thầy Trần Ngọc Hải, giáo viên Trường Tiểu học và THCS Cao Sơn vẫn bền bỉ “gieo chữ”. Ảnh: Đình Giang
Khi đó, Cao Sơn chưa có điện, chưa có sóng điện thoại, chưa có con đường và ngôi trường đúng nghĩa. Trường chỉ là vài gian nhà tranh vách nứa nền đất với vài chục học sinh. Nhiều em phải băng rừng sang tận bên kia núi, địa phận tỉnh Hòa Bình (cũ) để học nhờ con chữ. “Đứng lớp mà cứ thấp thỏm, không biết trò mai còn đi học không, hay lại theo bố mẹ lên nương”, thầy Hải buông tiếng thở dài. Đến năm 2007, khi có chủ trương dựng trường, một “công trường” đặc biệt đã được mở ra trên đỉnh Cao Sơn. Không máy móc, không phương tiện cơ giới, chỉ có sức người và một niềm tin rất giản dị: phải có một mái trường kiên cố cho các em học sinh. Các thầy giáo cùng thanh niên các bản Son, Bá, Mười đã gùi đá từ bên kia dãy Pha Chiến, Pòng Mứu. Phụ nữ gánh cát từ dưới suối lên, phía bên kia sườn dốc. Quãng đường hàng cây số, mỗi chuyến đi kéo dài từ 5 đến 6 tiếng đồng hồ. Những đoàn người cứ thế nối nhau đi trong sương lạnh, nhưng vai áo ai sũng ướt mồ hôi; bàn chân bám từng mỏm đá, có người trượt ngã lại đứng dậy đi tiếp, không ai tính toán thiệt hơn. “Ai cũng mệt, nhưng vui, vì nghĩ đến chuyện con trẻ sẽ có lớp học đàng hoàng”, thầy Hải tâm sự.
Nửa năm ròng rã, từng viên đá được đưa lên dựng móng, xây trường. Ngôi trường mới dần hình thành giữa đại ngàn, bằng ý chí và sự đồng lòng. Nhưng dựng được trường chưa phải là đã giữ được trò. Những năm sau đó, thầy Hải cùng đồng nghiệp lại bước vào một hành trình khác, đi “xin trò” ở các bản. Sau tết, sau mỗi mùa rẫy, hay mùa mưa lũ, các thầy lại cùng trưởng bản đến từng nhà vận động học sinh trở lại lớp. Có em hôm trước còn ở lớp, hôm sau đã theo bố mẹ lên nương, lên rẫy. Đến nhà không gặp, các thầy lại phải lên đồi thuyết phục gia đình. Như lời thầy Hải, giữ được một đứa trẻ ở lại lớp là cả một hành trình nỗ lực. Với nhiều gia đình, học hay không học cũng không làm thay đổi cái ăn trước mắt.
Trong câu chuyện cùng thầy, tôi mới hay, khi chính người “gieo chữ” có mặt ở nơi đây, cũng có một cuộc giằng xé nội tâm. Những năm đầu lên đây công tác, mỗi lần xuống núi là một hành trình dài ngày. Mùa mưa đường sạt, có khi cả tháng không thể về. Rồi những cuộc điện thoại chập chờn; những lần con ốm, vợ một mình xoay xở... tất cả dồn lại thành áp lực. Gia đình nhiều lần khuyên thầy xin chuyển công tác, một bên là hậu phương, một bên là lớp học còn chênh vênh giữa núi. Cuối cùng, thầy chọn một cách giải quyết không ai ngờ tới: Thuyết phục cả gia đình rời đồng bằng lên với rừng núi. Bản thân thầy Hải cũng không nghĩ quyết định ấy lại nhận được sự đồng tình của vợ con. Với thầy, không giải quyết như vậy thì không thể bám trường, bám lớp được. Câu nói giản dị nhưng là một quyết định không hề nhẹ, đánh dấu bước chuyển từ một người “đến rồi sẽ đi” thành người ở lại, gắn bó với ngôi trường vùng cao.
Cao Sơn hôm nay, con đường đã mở rộng, thảm nhựa; sau nhiều lần nâng cấp, tu sửa ngôi trường đã được khang trang hơn. Năm học 2025-2026 này, Trường Tiểu học và THCS Cao Sơn có 117 học sinh, không còn cảnh học nhờ; không còn những lớp tranh tre nứa lá tạm bợ với cảnh học sinh bỏ học năm nào. Nhưng, gian khó thì chưa hẳn đã lùi xa. Ngôi trường gần hai thập kỷ vẫn chưa từng có nữ giáo viên lên công tác, cho thấy sự khó khăn của địa hình. Với các thầy, ban ngày đứng lớp, chiều về lại tự lo từng bữa ăn, trồng rau, tích trữ thực phẩm. Có những thời điểm mưa lũ kéo dài, thực phẩm khan hiếm, các thầy lại phải nhờ sự sẻ chia của bà con dân bản. Thầy Nguyễn Thế Tài, hiệu trưởng nhà trường nói rằng: “Cái khó lớn nhất không phải là thiếu ăn, thiếu mặc, mà là cảm giác xa nhà, nhưng ở lâu rồi cũng thành quen, các thầy coi nhau như người nhà”. Và, khi được hỏi về chuyện thuyên chuyển về xuôi, thầy chỉ cười. Nụ cười đủ để tôi hiểu ra câu trả lời đã được định hình từ rất lâu, từ những ngày còn “cõng” đá dựng trường.
Đình Giang
Bài 2: Vững niềm tin nơi đất khó











