Từ Pác Bó đến mùa Thu độc lập

Giữa núi rừng biên cương Cao Bằng, Pác Bó hôm nay vẫn xanh thẳm màu cây, trong veo dòng suối đầu nguồn. Hơn 85 năm trước, ngày 28/1/1941, sau ba mươi năm xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc đã trở về đất mẹ. Từ bước chân lịch sử ấy, một hành trình lớn lao được bắt đầu – chuẩn bị đường lối, gây dựng lực lượng, tập hợp sức mạnh của lòng dân để đi tới Cách mạng Tháng Tám và mùa Thu độc lập năm 1945.

Khánh Như / Trình bày: Hồng Toại • 1/9/2026

*****

Giữa núi rừng biên cương Cao Bằng, Pác Bó hôm nay vẫn xanh thẳm màu cây, trong veo dòng suối đầu nguồn. Hơn 85 năm trước, ngày 28/1/1941, sau ba mươi năm xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc đã trở về đất mẹ. Từ bước chân lịch sử ấy, một hành trình lớn lao được bắt đầu – chuẩn bị đường lối, gây dựng lực lượng, tập hợp sức mạnh của lòng dân để đi tới Cách mạng Tháng Tám và mùa Thu độc lập năm 1945.

Có những địa danh đi vào lịch sử bởi những sự kiện lớn. Cũng có những nơi, thoạt nhìn chỉ là một dòng suối, một triền núi, một mái nhà nhỏ nép dưới đại ngàn, nhưng lại lưu giữ những khoảnh khắc làm thay đổi vận mệnh của cả một dân tộc. Pác Bó là một nơi như thế.

Lần đầu đặt chân đến Pác Bó, đi giữa màu xanh thẳm của núi rừng Cao Bằng, nghe tiếng nước đầu nguồn róc rách qua những phiến đá, tôi mang theo một cảm giác rất khó gọi tên. Là một phóng viên đến từ Nghệ An – quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh – đã nhiều năm có cơ hội viết về Người, tôi từng biết Pác Bó qua sách, qua tư liệu, qua những câu chuyện lịch sử. Nhưng chỉ khi đứng giữa vùng biên viễn này, lịch sử mới hiện ra gần đến vậy: Ngày 28/1/1941, sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đặt bước chân đầu tiên trở về Tổ quốc.

Bác Hồ về nước (28/1/1941). Tranh: TRỊNH PHÒNG, Ảnh: KN

Bác Hồ về nước (28/1/1941). Tranh: TRỊNH PHÒNG, Ảnh: KN

Nhà thơ Tố Hữu sau này đã viết về giây phút ấy bằng những câu thơ đầy xúc động:

Bác đã về đây Tổ quốc ơi,
Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người.
Ba mươi năm ấy chân không nghỉ,
Mà đến bây giờ mới tới nơi”.

Trích trong bài thơ "Theo chân Bác" - Tố Hữu

Ba mươi năm kể từ ngày người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Bến Nhà Rồng năm 1911, qua nhiều quốc gia, nhiều châu lục để kiếm tìm con đường giải phóng dân tộc. Khi con đường ấy đã dần sáng rõ, Nguyễn Ái Quốc trở về không phải để khép lại một hành trình, mà để trực tiếp cùng đồng bào mình chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giành độc lập.

Theo con đường lên nơi có ngôi nhà ông Lý Quốc Súng, giữa bốn bề núi rừng, một câu hỏi cứ trở đi trở lại trong tôi: Vì sao sau ba mươi năm xa Tổ quốc, từng đi qua nhiều miền đất và tiếp xúc với những trung tâm lớn của thế giới, Nguyễn Ái Quốc lại chọn một ngôi nhà nhỏ trên núi cao làm nơi ở trong những ngày đầu trở về? Từ ngày 28/1 đến ngày 7/2/1941, Người đã sống tại đây. Sự đơn sơ của căn nhà, đặt giữa không gian núi rừng vắng lặng, khiến khoảng cách của 85 năm qua dường như ngắn lại.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dự bữa cơm thân mật tại nhà ông Lý Quốc Súng trong ngày đầu tiên trở về 28/1/1941. Ảnh KN

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dự bữa cơm thân mật tại nhà ông Lý Quốc Súng trong ngày đầu tiên trở về 28/1/1941. Ảnh KN

Ngày 8/2/1941, với tên gọi Già Thu, Người chuyển vào hang Cốc Bó – một hang núi nhỏ, kín đáo giữa vùng núi đá hiểm trở. Đồ dùng chỉ có chiếc va ly mây đựng tài liệu, máy chữ và chỗ nằm đơn sơ. Ban ngày, Người thường làm việc bên dòng suối sau này được đặt tên là suối Lê-nin; ngọn núi phía trên là núi Các Mác.

Đứng trong hang Cốc Bó, tôi đã lặng đi. Trong hình dung của thế hệ chúng tôi, Hồ Chí Minh là một vĩ nhân của lịch sử dân tộc, một tầm vóc lớn lao mà càng tìm hiểu càng thấy kính phục. Vậy mà trước mắt lại là một nơi ở nhỏ bé, đơn sơ giữa núi rừng biên cương. Chính sự tương phản ấy gây xúc động mạnh hơn mọi lời thuyết minh: một con người mang trong mình khát vọng lớn lao về vận mệnh dân tộc đã từng sống và làm việc trong những điều kiện thiếu thốn đến như vậy.

Suối Lê Nin - Núi Các Mác. Ảnh KN

Suối Lê Nin - Núi Các Mác. Ảnh KN

Giữa cuộc sống gian khó ấy, Người vẫn giữ một tâm thế ung dung mà bài thơ "Tức cảnh Pác Bó" đã lưu lại:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang,
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,
Cuộc đời cách mạng thật là sang”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đứng bên dòng suối Lê-nin, câu thơ “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng” bỗng không còn chỉ là câu thơ từng đọc. Trên những phiến đá ấy, Nguyễn Ái Quốc đã làm việc, dịch tài liệu phục vụ huấn luyện cán bộ. Cảm giác ấy trở lại khi tôi cùng đồng nghiệp lên cột mốc 108. Giữa địa hình biên giới núi cao, rừng sâu, thật khó hình dung hơn tám mươi năm trước, Người và các đồng chí đã sống, làm việc, giữ liên lạc và gây dựng phong trào trong điều kiện khắc nghiệt đến nhường nào.

Ekip phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Nghệ An tại cột mốc 108 - Nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt bước chân đầu tiên trở về Tổ quốc. Ảnh KN

Ekip phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Nghệ An tại cột mốc 108 - Nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt bước chân đầu tiên trở về Tổ quốc. Ảnh KN

Những câu hỏi nảy lên từ chính hành trình thực tế ấy khiến câu chuyện vì sao Nguyễn Ái Quốc chọn Pác Bó càng trở nên đáng tìm hiểu. Theo nhà nghiên cứu lịch sử Nông Hải Pín, nguyên Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cao Bằng, sự lựa chọn Pác Bó cho thấy tầm nhìn chiến lược của Nguyễn Ái Quốc về việc xây dựng căn cứ cách mạng.

Nhà nghiên cứu Nông Hải Pín - Nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cao Bằng cũ. Ảnh KN

Pác Bó hội tụ những điều kiện quan trọng: Địa thế biên giới thuận lợi cho hoạt động bí mật, phong trào quần chúng và cơ sở cách mạng đã được gây dựng, đồng thời có khả năng phát triển lực lượng từ Cao Bằng xuống Việt Bắc và kết nối với phong trào cả nước.

Nhà nghiên cứu lịch sử Nông Hải Pín

Địa thế có thể che chở cho cách mạng trong những thời điểm hiểm nguy, nhưng một căn cứ muốn đứng vững và phát triển không thể chỉ dựa vào núi cao hay hang sâu. Điểm tựa bền vững nhất vẫn là lòng dân. Pác Bó nghĩa là “đầu nguồn”. Có lẽ hiếm có sự gặp gỡ nào giữa tên đất và lịch sử lại gợi nhiều liên tưởng đến thế. Bởi cũng từ “đầu nguồn” ấy, một dòng chảy cách mạng đã được khơi lên, để bốn năm sau hòa vào dòng thác của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.

Ở Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí hòa vào đời sống đồng bào Tày, Nùng, Dao, Mông...; học tiếng nói, tôn trọng phong tục và tin vào lòng yêu nước của nhân dân. Khái niệm về Cách mạng được tuyên truyền, giải thích bằng những hình ảnh gần gũi để đồng bào hiểu, tin và cùng tham gia. Từ đó, các cơ sở cách mạng lần lượt được gây dựng; phong trào từ Hà Quảng lan ra các địa phương của Cao Bằng rồi từng bước tỏa rộng.

Tháng 5/1941, tại Khuổi Nậm, Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Hội nghị đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu – một lựa chọn có ý nghĩa chiến lược, đáp ứng đòi hỏi cấp bách nhất của đất nước lúc bấy giờ. Cũng từ hội nghị này, Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, ra đời.

Lán Khuổi Nậm, nơi diễn ra Hội nghị Trung ương 8. Ảnh KN

Lán Khuổi Nậm, nơi diễn ra Hội nghị Trung ương 8. Ảnh KN

Trao đổi với chúng tôi về ý nghĩa của sự kiện, ông Đào Văn Mùi, Giám đốc Ban Quản lý các Di tích Quốc gia đặc biệt tỉnh Cao Bằng, nhấn mạnh giá trị của tư tưởng tập hợp lực lượng dưới ngọn cờ độc lập dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Mặt trận Việt Minh là tổ chức tập hợp các lực lượng yêu nước. Nguyễn Ái Quốc không chỉ dựa vào công nhân, nông dân mà còn đặc biệt coi trọng việc khơi dậy tinh thần yêu nước của trí thức, nhân sĩ, địa chủ yêu nước và các tầng lớp xã hội, cùng hướng về mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc.

Ông Đào Văn Mùi - Giám đốc Ban Quản lý các Di tích Quốc gia đặc biệt tỉnh Cao Bằng

Đó cũng là một biểu hiện rõ nét của tư tưởng đại đoàn kết. Tư tưởng ấy hiện hữu trong cách Nguyễn Ái Quốc đến với đồng bào, xây dựng các đoàn thể cứu quốc, đào tạo cán bộ, tranh thủ những người có uy tín, có tri thức, có lòng yêu nước. Khi độc lập dân tộc trở thành điểm chung lớn nhất, những con người thuộc nhiều tầng lớp có thể cùng hội tụ thành một sức mạnh.

Cùng với xây dựng lực lượng chính trị là quá trình chuẩn bị về tổ chức và cán bộ. Nguyễn Ái Quốc viết, dịch, biên soạn nhiều tài liệu để tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, đào tạo cán bộ như Lịch sử nước ta, Phụ nữ Cứu quốc, Nhi đồng Cứu quốc… Đến cuối năm 1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Ngày 22/12/1944, đội quân với 34 chiến sĩ đầu tiên được thành lập tại Cao Bằng dưới sự chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp.

Lễ thành lập đội Du kích Pác Bó. Ảnh: KN

Lễ thành lập đội Du kích Pác Bó. Ảnh: KN

Đường lối đúng, sức mạnh đại đoàn kết cùng sự chuẩn bị về tổ chức và lực lượng đã tạo điều kiện để cách mạng tiến tới thời cơ quyết định. Từ mùa Xuân năm 1941 đến mùa Thu năm 1945, đất nước đã đi qua một chặng đường phi thường. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Giữa biển người của mùa Thu tháng 8 năm ấy, có lẽ khó ai có thể nhìn thấy hết những con đường đã hội tụ về Ba Đình. Có con đường đi qua nhà tù, qua những cuộc khởi nghĩa; có con đường bắt đầu từ những làng quê, những căn cứ cách mạng, từ sự hy sinh thầm lặng và lòng yêu nước của hàng triệu người Việt Nam. Và trong những con đường ấy, có một hành trình bắt đầu từ bước chân trở về nơi biên giới Cao Bằng mùa Xuân năm 1941.

Tám mươi lăm năm đã trôi qua. Pác Bó hôm nay đã khác vùng đất heo hút của những năm đầu thập niên 1940. Những con đường mở giữa núi rừng, bản làng ngày một khang trang, sạch đẹp. Năm 2012, Khu Di tích Pác Bó được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, trở thành địa chỉ đỏ đón những đoàn người tìm về nguồn cội.

Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó. Nguồn Internet

Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó. Nguồn Internet

Nhưng Pác Bó hôm nay không chỉ được kể qua hang Cốc Bó, suối Lê-nin, lán Khuổi Nậm, nhà ông Lý Quốc Súng hay những hiện vật còn được gìn giữ. Trong những ngày tác nghiệp tại đây, chúng tôi gặp những hướng dẫn viên của Khu Di tích đã nhiều năm gắn bó với công việc kể chuyện về Bác. Có những câu chuyện đã được nhắc lại không biết bao nhiêu lần, với biết bao đoàn khách, nhưng mỗi lần kể vẫn vẹn nguyên sự trân trọng và niềm xúc động. Chính tình cảm ấy khiến lời thuyết minh vượt ra ngoài những thông tin về một di tích, để lịch sử hiện lên gần gũi hơn qua ký ức, niềm tự hào và tình yêu của những con người đang ngày ngày gìn giữ, trao truyền câu chuyện về Bác trên mảnh đất Pác Bó.

Những câu chuyện ấy cứ đọng lại trong tâm trí phóng viên đến từ quê hương xứ Nghệ của Người. Với riêng tôi, sau nhiều năm viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên chính quê hương Người, lần đầu đứng ở nơi Người trở về Tổ quốc sau ba mươi năm xa cách, tôi cảm nhận rõ hơn sự nối dài của một hành trình: từ quê hương đã sinh ra Người đến vùng đất đón Người trở về để trực tiếp lãnh đạo cách mạng.

Chiếc phản gỗ - nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ngủ trong thời gian sống ở Hang Cốc Bó.

Chiếc phản gỗ - nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ngủ trong thời gian sống ở Hang Cốc Bó.

Bếp lửa, nơi Người đốt lửa sưởi ấm trong đêm giá lạnh.

Bếp lửa, nơi Người đốt lửa sưởi ấm trong đêm giá lạnh.

Hướng dẫn viên Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó kể lại những tháng ngày Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sống tại hang Cốc Bó với khách tham quan. Ảnh: KN

Hướng dẫn viên Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó kể lại những tháng ngày Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sống tại hang Cốc Bó với khách tham quan. Ảnh: KN

Vì thế, khi rời Pác Bó, điều đọng lại không chỉ là hang đá, dòng suối hay những nơi Người cùng các đồng chí từng sống và hoạt động cách mạng. Sâu sắc hơn cả là sự tương phản giữa một cuộc sống vô cùng giản dị, gian khó với những quyết sách lớn, của Cách mạng Việt Nam được khởi nguồn từ nơi đây.

Từ Pác Bó đến Ba Đình chỉ hơn bốn năm, nhưng phía sau quãng thời gian ấy là ba mươi năm Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước, là sự chuẩn bị về đường lối, tổ chức và lực lượng; là những cán bộ được rèn luyện, những con người thuộc nhiều tầng lớp được tập hợp và sự hy sinh của biết bao người cho một mục tiêu chung - Độc lập dân tộc.

Suối Lê-Nin hôm nay vẫn chảy, trong veo giữa màu xanh của núi rừng Pác Bó. Tám mươi lăm năm trước, nơi đầu nguồn ấy cũng đã chứng kiến một dòng chảy khác được khơi nguồn – dòng chảy của lòng yêu nước, của sức mạnh đại đoàn kết và khát vọng độc lập, tự do. Dòng chảy ấy đi qua những năm tháng gian lao, hòa vào dòng thác Cách mạng Tháng Tám để rồi hội tụ tại Quảng trường Ba Đình trong mùa Thu lịch sử năm 1945.

Suối Lê Nin. Nguồn: Internet

Suối Lê Nin. Nguồn: Internet

Và từ mùa Thu ấy, dân tộc Việt Nam bước vào hành trình gìn giữ giá trị của độc lập, vun đắp sức mạnh đại đoàn kết và tiếp tục khát vọng xây dựng một Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc.

Khánh Như

Nguồn Nghệ An: https://baonghean.vn/tu-pac-bo-den-mua-thu-doc-lap-10350240.html