Từ quốc gia giàu di sản đến quốc gia mạnh nhờ di sản
Cuộc làm việc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với Bộ VHTTDL về công tác bảo tồn, bảo tàng diễn ra vào trung tuần tháng 8 vừa qua đã gợi mở những vấn đề lớn: Quản trị, bảo tồn và phát huy nguồn lực di sản văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới.
Những con số được công bố cho thấy quy mô đồ sộ của tài sản di sản văn hóa Việt Nam. Cả nước hiện có hơn 40.000 di tích, gồm 149 di tích quốc gia đặc biệt, 3.688 di tích quốc gia, gần 12.000 di tích cấp tỉnh, thành phố; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể đã được kiểm kê, 735 di sản vào Danh mục quốc gia. Việt Nam hiện có 357 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận Bảo vật quốc gia; hơn 20.000 di vật, cổ vật đã đăng ký. Hệ thống 177 bảo tàng công lập và ngoài công lập đang lưu giữ, trưng bày hơn 4 triệu tài liệu, hiện vật. Đó là kho ký ức khổng lồ về lịch sử dựng nước, giữ nước, lao động, sáng tạo và giao lưu văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Vị thế di sản Việt Nam càng được khẳng định trên bình diện quốc tế. Đến nay, Việt Nam có 37 di sản được UNESCO ghi danh, gồm 9 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 17 di sản văn hóa phi vật thể và 11 di sản tư liệu; đứng đầu Đông Nam Á về số lượng di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh theo Công ước 2003 và đứng thứ hai khu vực về số lượng Di sản thế giới theo Công ước 1972.

Di tích khảo cổ Cát Tiên (Lâm Đồng) ngày càng thu hút du khách đến tham quan. Ảnh: Q.UYỂN
Vấn đề không còn là “bảo tồn hay phát triển”
Nhưng sức mạnh di sản không chỉ nằm ở số lượng. Đằng sau di tích, hiện vật, lễ hội, nghệ thuật trình diễn, nghề thủ công hay kho tư liệu là chiều sâu lịch sử, sự đa dạng của 54 dân tộc và sức sống văn hóa trong cộng đồng. Đó là nguồn “vốn di sản văn hóa” đặc biệt của Việt Nam.
Trong thời gian dài, nói đến di sản, chúng ta thường bắt đầu từ “bảo vệ”, “bảo tồn”, “tu bổ”, “chống xuống cấp”. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Câu hỏi trong bối cảnh mới là: Làm thế nào để nguồn tài sản ấy tham gia trực tiếp vào phát triển đất nước? Đó là chuyển từ coi di sản chủ yếu là đối tượng cần bảo vệ sang một loại vốn văn hóa, xã hội và kinh tế có khả năng sinh thành giá trị mới.
Thực tiễn đã chứng minh khả năng chuyển hóa ấy. Huế, Hội An, Tràng An đã xây dựng thương hiệu du lịch mạnh trên nền tảng di sản văn hóa. Từ di tích, lễ hội, nghệ thuật truyền thống, nghề thủ công, ẩm thực đến không gian văn hóa cộng đồng đều có thể trở thành nguyên liệu cho du lịch, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, thời trang, thiết kế, xuất bản, trò chơi điện tử và nhiều ngành công nghiệp văn hóa. Tại cuộc làm việc, yêu cầu đổi mới quản trị, đưa di sản văn hóa vào đời sống, gắn với du lịch và tăng trưởng kinh tế đã được đặt ra rõ ràng.
Vấn đề không còn là “bảo tồn hay phát triển”, mà phải bảo tồn để phát triển và phát triển để tạo nguồn lực cho bảo tồn. Khi hình thành vòng tuần hoàn ấy, đầu tư cho di sản vừa tạo giá trị văn hóa, vừa tạo việc làm, sinh kế, sản phẩm, thị trường và nguồn thu để tái đầu tư. Xa hơn, di sản tạo nên sức mạnh mềm quốc gia. Sức hấp dẫn của một đất nước không chỉ đến từ kinh tế hay công nghệ mà còn bởi văn hóa, bản sắc và khả năng kể câu chuyện của mình. Một di sản UNESCO hay loại hình nghệ thuật truyền thống được thế giới biết đến đều có thể trở thành “đại sứ” của Việt Nam.
Từ “giàu di sản” đến “mạnh nhờ di sản”
Với quy mô tài sản đang sở hữu, Việt Nam có tiềm năng trở thành một “cường quốc di sản văn hóa”. Khái niệm ấy không nên hiểu như cuộc chạy đua về số lượng danh hiệu UNESCO, mà quan trọng hơn là khả năng bảo vệ, quản trị, sáng tạo và chuyển hóa giá trị di sản thành sức mạnh quốc gia.
Vấn đề không còn là “bảo tồn hay phát triển”, mà phải bảo tồn để phát triển và phát triển để tạo nguồn lực cho bảo tồn. Khi hình thành vòng tuần hoàn ấy, đầu tư cho di sản vừa tạo giá trị văn hóa, vừa tạo việc làm, sinh kế, sản phẩm, thị trường và nguồn thu để tái đầu tư.
Xa hơn, di sản tạo nên sức mạnh mềm quốc gia. Sức hấp dẫn của một đất nước không chỉ đến từ kinh tế hay công nghệ mà còn bởi văn hóa, bản sắc và khả năng kể câu chuyện của mình.
Giàu di sản chưa đồng nghĩa với mạnh về di sản. Thực tế còn không ít di tích xuống cấp; nhiều di sản phi vật thể nguy cơ mai một do thiếu người kế tục; kiểm kê, tư liệu hóa chưa đầy đủ; chuyển đổi số chậm; nhân lực chuyên sâu thiếu. Có nơi đầu tư công trình phục vụ khai thác nhưng nguồn lực trực tiếp cho bảo tồn, tu bổ lại chưa tương xứng. Những “khoảng trống” này đã được chỉ rõ tại cuộc làm việc ngày 19.8.
Thách thức lớn nhất của Việt Nam không phải là thiếu di sản văn hóa, mà là năng lực chuyển hóa tài sản di sản thành nguồn lực phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Muốn thay đổi điều đó, trước hết phải đổi mới mô hình quản trị. Nhà nước không thể và cũng không nên là chủ thể duy nhất. Cần hình thành hệ sinh thái trong đó Nhà nước kiến tạo thể chế, bảo đảm lợi ích công cộng; cộng đồng giữ vai trò chủ thể; doanh nghiệp sáng tạo sản phẩm và thị trường; trường đại học, viện nghiên cứu cung cấp tri thức; công nghệ mở rộng khả năng tiếp cận và truyền thông đưa câu chuyện di sản đến công chúng.
Một vấn đề cấp thiết là đưa kho di sản Việt Nam vào không gian số. Hàng chục nghìn di tích, hàng triệu hiện vật, thực hành văn hóa, trang tư liệu nếu chỉ nằm trong kho lưu trữ, hồ sơ giấy hay trí nhớ nghệ nhân thì khả năng tiếp cận, nghiên cứu và sáng tạo giá trị mới sẽ hạn chế. Số hóa di sản không nên chỉ dừng ở chụp ảnh, quét 3D hay xây dựng những cơ sở dữ liệu riêng lẻ.
Việt Nam cần hướng tới một hạ tầng dữ liệu di sản quốc gia có chuẩn chung, khả năng kết nối và phục vụ đồng thời quản lý, nghiên cứu, giáo dục, truyền thông và công nghiệp văn hóa. Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, dữ liệu văn hóa liên quan trực tiếp đến quyền tự kể câu chuyện của một dân tộc. Nếu dữ liệu lịch sử, con người và văn hóa Việt Nam thiếu hụt, phân tán, cách thế giới hiểu về Việt Nam có thể ngày càng phụ thuộc vào nguồn dữ liệu do người khác tổ chức, diễn giải.
Bởi vậy, số hóa di sản không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật. Ở tầng sâu hơn, đó là vấn đề chủ quyền dữ liệu văn hóa, chủ quyền tri thức và năng lực định vị hình ảnh quốc gia trong không gian số. Từ đó có thể hình thành chuỗi giá trị: Di sản → dữ liệu → sáng tạo → sản phẩm → thị trường → sức mạnh mềm. Nếu vận hành tốt, hiện vật, câu chuyện, hoa văn, âm thanh, hình ảnh, tri thức dân gian và ký ức lịch sử sẽ trở thành nguồn nguyên liệu cho điện ảnh, hoạt hình, trò chơi điện tử, thiết kế, thời trang, xuất bản và du lịch thông minh.
Giữ gìn di sản quá khứ để kiến tạo di sản tương lai
Một tư duy đáng chú ý được đặt ra tại cuộc làm việc là không thể chỉ bảo tồn những gì cha ông để lại; mỗi thế hệ còn có trách nhiệm tạo ra giá trị xứng đáng trao truyền cho mai sau. Câu hỏi đặt ra là: 100 năm, thậm chí 500 năm nữa, người Việt Nam sẽ nhận được gì từ thế hệ hôm nay?
Chúng ta đang xây dựng nhiều đô thị, công trình, không gian công cộng và thiết chế văn hóa. Nhưng bao nhiêu trong số đó đủ sức đại diện cho trí tuệ, thẩm mỹ, khát vọng Việt Nam đầu thế kỷ XXI và có thể trở thành di sản tương lai? Tư duy ấy đòi hỏi chuyển từ bảo tồn thụ động sang chủ động kiến tạo ký ức quốc gia; từ chờ một công trình trở nên cổ kính mới nhận diện giá trị sang ý thức tạo dựng những công trình, sản phẩm và không gian văn hóa có khả năng trường tồn ngay từ hôm nay.
Cha ông để lại một quốc gia giàu di sản văn hóa. Trách nhiệm hôm nay không chỉ là giữ cho di sản không mất đi, mà phải làm cho chúng tiếp tục sống, sinh thành giá trị và đóng góp cho phát triển. Từ quốc gia giàu di sản văn hóa đến quốc gia mạnh nhờ di sản là hành trình dài. Nhưng với nguồn tài sản đồ sộ cùng tư duy mới về bảo tồn, dữ liệu, sáng tạo và công nghiệp văn hóa, Việt Nam có cơ sở biến di sản thành nguồn lực mạnh của kỷ nguyên phát triển mới, đồng thời kiến tạo những giá trị xứng đáng trở thành di sản cho mai sau.
