Tuổi trẻ Việt Nam noi theo Hồ Chí Minh, giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc

Hồ Chí Minh - Lãnh tụ thiên tài của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam và thế giới. Ở Người, có sự hội tụ, kết hợp và phát huy đến mức cao nhất, hoàn mỹ nhất tinh hoa văn hóa dân tộc và thời đại, phương Đông và phương Tây, cổ và kim, trí dũng và nhân văn, sự vĩ đại và đức tính giản dị, khiêm nhường. Người nhiều lần căn dặn, nhắc nhở cán bộ, đảng viên và mọi người dân, nhất là thế hệ trẻ phải biết giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc để góp phần đắc lực vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong bài diễn ca 'Lịch sử nước ta' (tháng 2/1942), Người viết: 'Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam/ Kể năm hơn bốn ngàn năm/ Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa…'.

Hồ Chí Minh - Lãnh tụ thiên tài của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam và thế giới. Ở Người, có sự hội tụ, kết hợp và phát huy đến mức cao nhất, hoàn mỹ nhất tinh hoa văn hóa dân tộc và thời đại, phương Đông và phương Tây, cổ và kim, trí dũng và nhân văn, sự vĩ đại và đức tính giản dị, khiêm nhường. Người nhiều lần căn dặn, nhắc nhở cán bộ, đảng viên và mọi người dân, nhất là thế hệ trẻ phải biết giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc để góp phần đắc lực vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong bài diễn ca “Lịch sử nước ta” (tháng 2/1942), Người viết: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam/ Kể năm hơn bốn ngàn năm/ Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa…”.

Tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, khát vọng độc lập, tự do

Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, một nước thuộc địa nửa phong kiến; nhân dân bị biến thành nô lệ, đói khổ, lầm than. Khoảng 14 - 15 tuổi, Nguyễn Tất Thành và anh trai Nguyễn Tất Đạt được cha mình là Nguyễn Sinh Huy (tức Nguyễn Sinh Sắc) cho theo học tại Trường tiểu học Pháp - Việt ở thị xã Vinh. Tháng 5/1906, ông Nguyễn Sinh Huy sau mấy năm lấy cớ ở quê để chịu tang nhạc phụ và chăm sóc nhạc mẫu đã phải vào Huế nhậm chức. Hai người con trai đi theo cha và vào học tiếp ở Trường tiểu học Pháp - Việt Đông Ba, được dạy bằng 3 thứ tiếng Pháp, Hán, Việt và các môn toán, lịch sử, địa lý, khoa học, tập vẽ. Nguyễn Tất Thành học lớp nhì, niên khóa 1906 - 1907 và lớp nhất, niên khóa 1907 - 1908. Tại kỳ thi tốt nghiệp tiểu học (năm 1908), Nguyễn Tất Thành là một trong 10 học sinh tốp đầu, thi vượt cấp vào học lớp đệ nhị niên trung học của Trường Quốc học Huế niên khóa 1908 - 1909.

Thời gian này, sách báo của Pháp và châu Âu, tân thư của Trung Quốc, tư tưởng cải cách của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu được lưu hành khá rộng rãi ở đất thần kinh, nhất là trong giới sĩ phu, văn thân yêu nước. Các thầy giáo Hoàng Thông, thầy Trần Thân, thầy Lê Văn Miến…; các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Trần Văn Lương, Phan Chu Trinh, Đào Tấn... đã ảnh hưởng sâu sắc đến Nguyễn Tất Thành. Trên con đường đi về phía Nam, Nguyễn Tất Thành dừng chân ở Phan Thiết, xin làm trợ giáo (moniteur) từ tháng 9/1910 - 2/1911 cho Dục Thanh Học Hiệu, ngôi trường do các ông Nguyễn Trọng Lội và Nguyễn Quý Anh là con trai chí sĩ yêu nước Nguyễn Thông thành lập năm 1907.

Ngoài giờ lên lớp, Nguyễn Tất Thành háo hức tìm đọc những cuốn sách quý được cất giữ ở đây, đến gần hơn với các tư tưởng tiến bộ, nhân văn của các nhà khai sáng Pháp như Rousseau, Voltair, Montesquieu. Anh cũng có thêm thời gian và tầm nhìn để nhìn lại các phong trào yêu nước như Cần Vương, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa thục, kể cả cuộc khởi nghĩa Yên Thế do cụ Hoàng Hoa Thám ứng đầu… Anh rất khâm phục và kính trọng các bậc yêu nước tiền bối, nhưng xác định không thể đi theo những con đường của họ. Lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù quân xâm lược và tay sai ngút trời đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành vượt trùng khơi tìm đường cứu nước vào ngày 5/6/1911.

Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đặt chân lên con tàu Amiral Latouche Treville tại bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh tư liệu

Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đặt chân lên con tàu Amiral Latouche Treville tại bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh tư liệu

Trước chuyến đi của Nguyễn Tất Thành - Văn Ba, ông Phan Bội Châu, một người Nam Đàn là bạn đèn sách, tâm giao với thân phụ của anh đã chọn con đường đi về phương Đông, nhưng nước Nhật “đồng chủng”, “đồng văn” đang xâm lược Trung Quốc, Triều Tiên, ra lệnh trục xuất chính ông Phan và các du học sinh Việt Nam yêu nước. Cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc thất bại, cho thấy Trung Quốc không thể đi theo con đường Duy Tân của Nhật Bản. Cách mạng Tân Hợi (1911) của Tôn Văn tuy lật đổ được ngai vàng đế chế, nhưng đã không cởi bỏ được quyền chiếm hữu ruộng đất và ách bóc lột của địa chủ phong kiến, ách nô dịch của đế quốc tư bản nước ngoài.

Một số người Việt Nam lúc đó cũng sang Pháp với nhiều lý do, trong đó có Luật sư, Tiến sĩ Phan Văn Trường và Phó bảng Phan Châu Trinh. Hai chí sĩ họ Phan tuy sống và hoạt động yêu nước ở Pháp nhiều năm, từng tiếp xúc với các lực lượng cánh tả Pháp, vậy mà vẫn không tìm được con đường cứu nước đúng đắn. Theo tài liệu của Trung ương Đảng Xã hội Pháp thì năm 1913 có 7 người Việt Nam vào Đảng Xã hội Pháp, năm 1919 có 80 người Việt Nam tham gia Đảng này, nhưng đến năm 1920 chỉ còn 20 người.[2]

Duy nhất Nguyễn Ái Quốc vào Đảng Xã hội Pháp năm 1918; được tiếp xúc với Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về các vấn đề dân tộc và các vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin (đăng trên báo L'Humanité, cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp) tháng 7/1920; tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tours với tư cách là đại biểu Đông Dương và trở thành một sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp, là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Sau này, Người kể lại: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ Ba”[3]. Ông Phan Châu Trinh, trong một bức thư đề ngày 18/2/1922 gửi từ Marseille cho Nguyễn Ái Quốc đang ở Paris, đã ví Nguyễn Ái Quốc “như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông… không bao lâu nữa cái chủ nghĩa anh tôn thờ sẽ thâm căn cố đế trong đám dân tình, chí sĩ nước ta”[4].

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở Tours, tháng 12/1920. Ảnh tư liệu

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở Tours, tháng 12/1920. Ảnh tư liệu

Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp Thuộc địa (Union intercoloniale - Association des indigènes de toutes les colonies). Năm 1922, Người cùng các đồng chí của minh ra báo Le Paria (Người cùng khổ). Ngay bài viết cho số đầu tiên, Người khẳng định sứ mệnh tờ báo là “giải phóng con người”.

Nhà thơ Liên Xô (trước đây) Ôxíp Manđenxtam, trong bài viết “Thăm một chiến sĩ Quốc tế Cộng sản - Nguyễn Ái Quốc” đăng ở tạp chí Ogoniok, số 39 ngày 23/12/1923, đã viết: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”… “Dân An Nam là một dân tộc giản dị và lịch thiệp. Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới” .

Năm 1925, Người (lúc này mang tên Vương) lựa chọn những người trẻ yêu nước của Tâm Tâm Xã, huấn luyện thêm và trên cơ sở đó lập ra Cộng sản Đoàn, rồi tiếp tục dựa trên Cộng sản Đoàn mà thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội (Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên) vào tháng 6/1925.

Cũng trong năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, do Liêu Trọng Khải, một cộng sự thân tín của Tôn Dật Tiên, làm Hội trưởng và Người làm Bí thư. Ngày 21/6/1925, Người cho xuất bản báo Thanh niên - cơ quan phát ngôn của Hội, đến tháng 2/1930, tờ báo này ra được 208 số. Các bài giảng, bài viết của Người tập hợp lại trong cuốn “Đường Kách mệnh”, được Hội này xuất bản năm 1927.

Đầu năm 1930, với tư cách Đại diện Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập các đại biểu ba tổ chức cộng sản tại Đông Dương - Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (tổ chức này không kịp có mặt) để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam[5].

Nguyễn Ái Quốc và các đại biểu trong Quốc tế Cộng sản, năm 1935

Nguyễn Ái Quốc và các đại biểu trong Quốc tế Cộng sản, năm 1935

Sau 30 năm đi khắp năm châu bốn biển tìm đường cứu nước, ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam. Người triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (họp từ ngày 10/5 - 19/5/1941 tại Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng). Phân tích đúng đắn tình hình quốc tế và trong nước, Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Hội nghị đề ra nhiều quyết sách quan trọng, trong đó có việc thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thay cho tổ chức trước đó là Mặt trận Dân tộc Thống nhất Phản đế Đông Dương.

Tháng 8/1945, phát xít Đức đầu hàng Đồng minh, ở Đông Dương quân Nhật hoảng loạn, phong trào cách mạng cả nước sôi sục, những điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín muồi, ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước trước khi quân Đồng Minh vào Đông Dương. Ngay đêm hôm đó, Ủy ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng đã hạ lệnh khởi nghĩa và phát đi “Quân lệnh số 1” kêu gọi đồng bào cả nước đứng dậy tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 16/8/1945, Đại hội Đại biểu Quốc dân (tức Quốc dân Đại hội Tân Trào) họp và phát động Tổng khởi nghĩa vũ trang, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, trong đó điểm đầu tiên là phải “giành chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập”. Đại hội quyết định Quốc kỳ nền đỏ, sao vàng; chọn bài Tiến quân ca làm Quốc ca và bầu ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Từ Việt Bắc, hào khí cách mạng lan rộng và sục sôi trong cả nước. Sáng ngày 19/8/1945, theo lời kêu gọi của Việt Minh, cả Hà Nội vùng dậy dưới rừng cờ đỏ sao vàng xuống đường mít tinh, biểu dương lực lượng, tiến vào chiếm Phủ Khâm sai, trại lính bảo an và các cơ sở của Chính phủ bù nhìn. Chiều ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng vạn nhân dân, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy!”

Chặng đường 30 năm tiếp theo, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải” để đi tiếp hai cuộc trường chinh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thu giang sơn về một mối, bảo vệ vững chắc biên giới, hải đảo của Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tất cả vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Lòng yêu nước, văn hóa dân tộc - nền tảng để tuổi trẻ Việt Nam vươn mình trong kỷ nguyên mới

Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”… “Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế, kết hợp chặt chẽ và triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó: phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên. Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển”[6].

Bác Hồ với các anh hùng chiến sĩ thi đua (năm 1967). Ảnh: Mầu Hoàng Thiết

Bác Hồ với các anh hùng chiến sĩ thi đua (năm 1967). Ảnh: Mầu Hoàng Thiết

Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm và đề cao sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đặc biệt là vai trò của những người trẻ - lực lượng hùng hậu, giàu trí tuệ và khát vọng đưa đất nước đi lên. Ngay từ mùa thu năm 1945, trong rất nhiều công việc quan trọng, cấp thiết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” (ngày 5/9/1945), Người ân cần căn dặn và mong mỏi: “Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Tháng 1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục gửi thư cho thanh niên và nhi đồng toàn quốc, Người viết: “Một năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”[7].

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sinh thời đã nói: “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội”[8].

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, trong bài viết có tựa đề “Tương lai cho thế hệ vươn mình” (ngày 25/3/2025) chỉ rõ: “Trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, thanh niên - thế hệ trẻ luôn giữ vị trí quan trọng, được ví như rường cột quyết định sự hưng thịnh của dân tộc. Trong mọi thời kỳ cách mạng từ khi có Đảng lãnh đạo đến nay, thanh niên luôn là lực lượng tiên phong, đóng vai trò nòng cốt, từ đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: “Trong giai đoạn mới hiện nay, vai trò của lực lượng thanh niên càng trở nên quan trọng. Thanh niên là trụ cột để đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới. Thanh niên là chủ nhân tương lai của đất nước, là nhân tố quan trọng trong xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam”.

Tổng Bí thư Tô Lâm tặng hoa chúc mừng Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam Khóa IX. Ảnh: VGP

Tổng Bí thư Tô Lâm tặng hoa chúc mừng Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam Khóa IX. Ảnh: VGP

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ ra những cơ hội và thách thức mà những người trẻ cần nhận rõ để có nhận thức và hành động đúng đắn, sáng tạo: “Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam phải đối mặt với nguy cơ mai một đáng kể. Hiện tượng giao lưu, hội nhập văn hóa trên quy mô toàn cầu mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và xã hội nhưng cũng đồng thời tạo ra những thách thức lớn trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống. Các xu hướng văn hóa ngoại lai, nếu không được tiếp nhận một cách tỉnh táo và có chọn lọc, có thể làm lu mờ, thậm chí làm xói mòn những nét đẹp vốn có của văn hóa dân tộc. Một trong những biểu hiện rõ ràng nhất của vấn đề này chính là sự thay đổi trong lối sống và tư duy của giới trẻ. Nhiều thanh niên ngày nay dễ dàng tiếp nhận những giá trị mới, hiện đại từ bên ngoài mà ít quan tâm đến các giá trị truyền thống của dân tộc. Sự phổ biến của các phương tiện truyền thông, mạng xã hội và giải trí quốc tế khiến cho nhiều người trẻ ngày càng xa rời những giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc, như các loại hình nghệ thuật truyền thống, lễ hội dân gian, ẩm thực truyền thống, và cả những giá trị đạo đức, tinh thần đoàn kết cộng đồng vốn là nét đẹp riêng của người Việt. Tệ nạn xã hội, tỷ lệ phạm tội trong giới trẻ ngày càng diễn biến phức tạp và đang len lỏi vào đời sống của một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên, làm suy yếu nòi giống của dân tộc”.

Đó là những nhận định, định hướng khoa học, nhân văn. Đảng, Nhà nước ta luôn coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn sức mạnh nội sinh, là hệ điều tiết, là động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội; con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển đất nước. Khâu đột phá đầu tiên và rất quan trọng là đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó, tầng lớp trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ, giới trẻ là đội ngũ nhiều tiềm năng, tài năng, đóng góp to lớn.

Chúng ta đang sống trong một thế giới phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng, đa cực, với hai xu hướng chủ yếu là quốc tế hóa và khu vực hóa, thông qua các cơ chế hợp tác (và cạnh tranh) về chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, quốc phòng, an ninh. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất trên thế giới dựa trên các nền tảng của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nền kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, xã hội số, văn hóa số. Sáng tạo trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bứt phá của nhiều quốc gia. Khai thác kinh tế sáng tạo, các ngành công nghiệp văn hóa sáng tạo để tạo ra xã hội số, kinh tế số và kinh tế xanh đang là xu hướng được các quốc gia sử dụng.

Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạo hóa đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mạnh mẽ; việc thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ảnh hưởng và tác động nhiều mặt đến việc phát triển văn hóa, xây dựng con người.

Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV ra mắt Đại hội

Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV ra mắt Đại hội

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm cho những năm tới, trong đó, nhiệm vụ thứ 4 và thứ 5 xác định: “Tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại, ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược, trọng tâm là chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo; đẩy mạnh đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo động lực then chốt nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của nền kinh tế. Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, trọng tâm là nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo”.

Chúng ta đang xây dựng nền văn hóa số thích ứng với nền kinh tế số, xã hội số, công dân số. Chú trọng đầu tư, phát triển công nghệ số trong lĩnh vực văn hóa, khoa học, công nghệ. Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa theo định hướng của nền kinh tế số. Xây dựng hệ thống văn bản pháp luật và hành lang pháp lý nhằm khuyến khích phát triển thị trường văn hóa số, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian số. Có các biện pháp hạn chế, ngăn chặn các ảnh hưởng, tác động tiêu cực từ mặt trái của văn hóa số đến đời sống xã hội, đặc biệt là với giới trẻ. Xác lập quyền lực mềm quốc gia bằng văn hóa, với các chính sách phát triển hợp lý, trên cơ sở các giá trị đặc sắc, lợi thế cạnh tranh của văn hóa Việt Nam, của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam, tạo sức đề kháng trước sự gia tăng “sức mạnh mềm” của một số quốc gia.

Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ trẻ, các ngành công nghiệp văn hóa trong thời kỳ mới nhằm cải thiện điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ văn hóa, nâng cao hiệu quả việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ và các quyền liên quan, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.

Tổng Bí thư Tô Lâm nói chuyện thân mật với các đại biểu trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ ngày 6/8/2025

Tổng Bí thư Tô Lâm nói chuyện thân mật với các đại biểu trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ ngày 6/8/2025

Nâng cao hàm lượng khoa học kỹ thuật trong chuỗi sản xuất sản phẩm, dịch vụ của các ngành công nghiệp văn hóa; phát triển mạng lưới doanh nghiệp, trong đó hình thành một số tập đoàn lớn về công nghiệp văn hóa, tri thức ở các lĩnh vực có thế mạnh.

Xây dựng và phát triển thị trường sản phẩm dịch vụ văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài; có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình tham gia và phát triển thị trường quốc tế. Tổ chức các sự kiện văn hóa, khoa học, nghệ thuật quốc tế tại Việt Nam trở thành các sự kiện thường niên, có uy tín khu vực và thế giới, thu hút sự tham gia của các nhà khoa học, các nghệ sĩ và các tổ chức văn hóa, nghệ thuật có uy tín, được đông đảo công chúng quan tâm.

Đổi mới phương thức hoạt động của tổ chức Đoàn thanh niên, các hội khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật nhằm tập hợp, tạo điều kiện để trí thức, văn nghệ sĩ và giới trẻ hoạt động tích cực, hiệu quả.

Chú thích:

[2] Trần Ngọc Giản: Quá trình hình thành tư tưởng yêu nước và việc xác định hướng đi tìm chân lý cứu nước của Bác Hồ, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh”, NXB Nghệ Tĩnh, tháng 3/1990, tr.146.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập X, trang 126-128 (Bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê-nin”, đăng trên Tạp chí Các vấn đề phương Đông, Liên Xô, 1960, nhân kỷ niệm 90 năm Ngày sinh V.I. Lê-nin).

[4] Bác Hồ với đất Quảng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.

[5] Hội nghị diễn ra tại căn nhà của một công nhân ở bán đảo Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 6/1 - 8/2/1930. Hội nghị quyết định thành lập một tổ chức cộng sản duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng, Lời kêu gọi của Đảng.

[6] Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 194

[8] Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII,

PGS. TS. Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ - Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng Giám đốc Đài TNVN; nguyên Phó Trưởng ban Ban Tuyên giáo Trung ương

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/tuoi-tre-viet-nam-noi-theo-ho-chi-minh-giu-gin-va-phat-huy-van-hoa-dan-toc-10417241.html