Ứng phó cú sốc xăng dầu không thể thiếu 'vùng đệm' dự trữ

Giá nhiên liệu và chi phí logistics tăng cao đang buộc doanh nghiệp phải tiết giảm từng lít xăng dầu. Thực hành tiết kiệm là cần thiết trong mọi hoàn cảnh, song năng lực dự trữ mới là yếu tố quyết định khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc năng lượng.

Nếu xây dựng được hệ thống dự trữ hiệu quả, nước ta có thể chuyển từ trạng thái “mua đâu dùng đó” sang chủ động điều tiết thị trường năng lượng. Trong ảnh: Tổng kho Xăng dầu Nhà Bè. Nguồn: saigon.petrolimex.com

Nếu xây dựng được hệ thống dự trữ hiệu quả, nước ta có thể chuyển từ trạng thái “mua đâu dùng đó” sang chủ động điều tiết thị trường năng lượng. Trong ảnh: Tổng kho Xăng dầu Nhà Bè. Nguồn: saigon.petrolimex.com

Xăng dầu dùng cho vận tải và điện năng cho hệ thống kho lạnh chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí vận hành của doanh nghiệp ngành rau quả. Ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc Công ty TNHH Thương mại, Dịch vụ và Xuất nhập khẩu Vina T&T, cho biết: trước tình hình giá nhiên liệu tăng mạnh, các doanh nghiệp phải tối ưu hóa logistics nội địa để giảm chi phí và duy trì hiệu quả kinh doanh. Theo đó, thay vì sử dụng nhiều chuyến xe nhỏ lẻ, doanh nghiệp tổ chức ghép chuyến, thu gom tập trung nguyên liệu từ đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên trước khi đưa về nhà máy đóng gói tại TPHCM.

Việc ghép đơn, tối ưu lộ trình vốn đã được Công ty cổ phần Thương mại Trường Thịnh thực hiện từ trước, nhưng nay “buộc phải tính toán kỹ hơn nữa từng chuyến xe để tiết giảm tối đa chi phí xăng dầu”, ông Phạm Văn Thắng, Giám đốc công ty, cho biết. Cùng với đó, các chuyến công tác ưu tiên sử dụng phương tiện chung; nhiều cuộc họp với đối tác được chuyển sang hình thức trực tuyến…

Giá nhiên liệu tăng cao kéo chi phí vận chuyển, dịch vụ tăng theo cũng tác động mạnh đến ngành du lịch. Trong khi đó, các hợp đồng tour thường được ký trước nhiều tháng, khiến doanh nghiệp khó điều chỉnh giá. Ông Nguyễn Sơn Thủy, Giám đốc Công ty TNHH Visit Indochina, cho biết: để giữ giá bán, nhiều đơn vị phải tối ưu hành trình, rút ngắn quãng đường, ưu tiên phương tiện tiết kiệm nhiên liệu hoặc xe điện cho các tuyến gần.

Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm nguồn cung và ổn định giá nhiên liệu trong tình hình mới đặt ra yêu cầu thực hành tiết kiệm. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu ngày càng khó lường bởi các yếu tố địa chính trị, tiết kiệm chỉ là một phần của lời giải.

Để tăng khả năng tự chủ trước các cú sốc năng lượng, cần đồng thời củng cố các nền tảng dài hạn như: đa dạng hóa nguồn cung dầu thô; hoàn thiện cơ chế điều hành giá, chính sách thuế; và đặc biệt là nâng cao năng lực dự trữ.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các nền kinh tế lớn đều coi dự trữ xăng dầu là “vùng đệm” chiến lược. Mỹ duy trì kho dự trữ đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong hơn một tháng. Tại châu Á, nhiều quốc gia chủ động xây dựng các hệ thống dự trữ quy mô lớn nhằm hấp thụ các cú sốc ngắn hạn từ thị trường quốc tế. Nhật Bản duy trì mức dự trữ tương đương khoảng 254 ngày nhập khẩu ròng, Hàn Quốc khoảng 200 ngày, trong khi Trung Quốc đạt khoảng 70 - 90 ngày.

Trong khi đó, quy mô nền kinh tế nước ta đã vươn lên thứ 32 thế giới, nhu cầu tiêu thụ xăng dầu ngày càng lớn, nhưng năng lực dự trữ lại chưa tương xứng. Hạn chế lớn nhất là dung lượng dự trữ quốc gia còn thấp.

Theo Nghị định 95/2021/NĐ-CP, thương nhân đầu mối phải duy trì dự trữ tối thiểu 20 ngày, thương nhân phân phối thì 5 ngày cung ứng. Về hạ tầng, nước ta chưa có hệ thống kho dự trữ xăng dầu quốc gia đúng nghĩa; phần lớn lượng dự trữ nằm tại các doanh nghiệp đầu mối. Cơ chế vận hành các tầng dự trữ cũng thiếu rõ ràng, chưa có một “nhạc trưởng” đủ thẩm quyền để điều phối tổng thể hệ thống dự trữ quốc gia.

Năm 2023, Thủ tướng đã phê duyệt Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt quốc gia, hướng đến bảo đảm sức chứa dự trữ dầu thô và sản phẩm xăng dầu cả nước đạt 75 - 80 ngày nhập ròng, phấn đấu đạt 90 ngày nhập ròng, nhằm cung ứng xăng dầu đầy đủ, liên tục cho phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Tại Kết luận 14, Bộ Chính trị cũng yêu cầu “sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn”.

Theo ông Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh, với đặc thù vẫn phụ thuộc một phần vào nguồn nhập khẩu dầu thô và các sản phẩm xăng dầu, Việt Nam cần coi việc nâng cao năng lực dự trữ là cấu phần quan trọng của chiến lược an ninh năng lượng.

Mục tiêu không chỉ là bảo đảm nguồn cung, mà còn tăng tính tự chủ và nâng cao sức chống chịu của hệ thống năng lượng quốc gia trước những biến động khó lường của thị trường toàn cầu. Hơn nữa, dự trữ dầu thô còn có ý nghĩa đặc biệt với hoạt động ổn định của các nhà máy lọc dầu trong nước. Khi có nguồn nguyên liệu dự trữ đủ lớn, các nhà máy có thể duy trì sản xuất ngay cả trong trường hợp nguồn cung từ thị trường quốc tế bị gián đoạn.

Theo đó, ông Sơn cho rằng, Việt Nam cần đẩy mạnh đầu tư hệ thống kho chứa và hạ tầng dự trữ chiến lược, nhất là tại các trung tâm năng lượng và khu vực gắn với các nhà máy lọc dầu, nhằm từng bước nâng quy mô dự trữ xăng dầu, dầu thô lên mức tiệm cận thông lệ quốc tế.

Đồng thời, thiết kế cơ chế phối hợp giữa dự trữ quốc gia và dự trữ thương mại của doanh nghiệp, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng và quản lý dự trữ chiến lược, còn các doanh nghiệp năng lượng chủ lực tham gia đầu tư, vận hành hạ tầng. Cách tiếp cận này đã được nhiều quốc gia áp dụng nhằm giảm áp lực ngân sách và tăng tính linh hoạt cho hệ thống dự trữ.

Để hình thành được một “lá chắn năng lượng” mang tính dài hạn, ông Phan Xuân Dương, chuyên gia năng lượng độc lập, cho rằng, vấn đề không chỉ là xây thêm bể chứa, mà phải là hệ thống dự trữ quốc gia hiện đại, vận hành như một công cụ điều tiết vĩ mô.

Hệ thống dự trữ quốc gia mới cần có bốn chức năng: (1) chống sốc nguồn cung, tức là đủ để bù đắp khi nhập khẩu gián đoạn; (2) ổn định giá, theo đó sẽ xuất kho khi giá tăng mạnh, nhập kho khi giá xuống thấp thay vì “nằm chết” trong bể chứa; (3) đưa năng lượng trở thành biến số điều hành vĩ mô thông qua phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ; (4) hỗ trợ chuyển dịch năng lượng.

Ông Dương lưu ý, cần định hướng phát triển các trung tâm dự trữ quy mô lớn mang tính quốc gia và khu vực; đồng thời tán thành việc huy động doanh nghiệp tham gia dự trữ quốc gia thông qua cơ chế đối tác công - tư (PPP), do Nhà nước không thể tự đầu tư toàn bộ hệ thống.

Về lộ trình, ông đề xuất trong ngắn hạn (1-2 năm), phải hoàn thiện chiến lược dự trữ quốc gia với các kịch bản cụ thể, nâng mức dự trữ tối thiểu lên 30-45 ngày và thí điểm một số kho dự trữ tập trung. Trong trung hạn (3-5 năm), cần hình thành 2-3 trung tâm dự trữ quy mô lớn, vận hành theo cơ chế xoay vòng. Trong dài hạn (5-10 năm), phải đạt chuẩn dự trữ quốc tế 60-90 ngày và từng bước trở thành một “hub năng lượng” của khu vực.

Cũng theo vị chuyên gia này, nếu xây dựng được hệ thống dự trữ hiệu quả, nước ta có thể chuyển từ trạng thái “mua đâu dùng đó” sang chủ động điều tiết thị trường năng lượng. Ngược lại, nếu không triển khai kịp thời, nước ta sẽ tiếp tục đối mặt với rủi ro bị động trước các cú sốc giá năng lượng, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu tăng trưởng, đặc biệt là kỳ vọng tăng trưởng hai con số, cũng như làm suy giảm lợi thế cạnh tranh công nghiệp.

An Nhiên

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/ung-pho-cu-soc-xang-dau-khong-the-thieu-vung-dem-du-tru/