Vài suy nghĩ về dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa

HNN - Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và đang lấy ý kiến để hoàn thiện là một bước đi đáng chú ý trong quá trình hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa ở nước ta. Điểm đáng quan tâm không chỉ ở việc lần đầu tiên công nghiệp văn hóa được đặt trong một khuôn khổ luật riêng, mà còn ở cách tiếp cận mới: coi văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần bảo tồn, đầu tư và hỗ trợ, mà còn là nguồn lực tạo ra giá trị kinh tế, việc làm, tài sản trí tuệ, sức cạnh tranh và sức mạnh mềm quốc gia.

 Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khi ra đời được kỳ vọng sẽ tạo công cụ pháp lý đủ rõ và khả thi để các địa phương phát huy lợi thế riêng.

 Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khi ra đời được kỳ vọng sẽ tạo công cụ pháp lý đủ rõ và khả thi để các địa phương phát huy lợi thế riêng.

Ngay trong phần giải thích từ ngữ, dự thảo xác định công nghiệp văn hóa là hệ thống các hoạt động kinh tế nhằm phát huy tài nguyên văn hóa, kết hợp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tài sản trí tuệ để tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế và xã hội. Các ngành được xác định khá rộng, từ điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo đến phát thanh, truyền hình, xuất bản, phần mềm và trò chơi giải trí.

Cách tiếp cận ấy phù hợp với xu thế hiện nay. Trong nền kinh tế tri thức, giá trị văn hóa không chỉ nằm ở hiện vật, tác phẩm hay sản phẩm hữu hình, mà còn ở quyền sở hữu trí tuệ, dữ liệu, thương hiệu, khả năng sáng tạo phái sinh và năng lực đưa sản phẩm vào thị trường. Dự thảo dành dung lượng đáng kể cho tài sản trí tuệ, hạ tầng số, dữ liệu, nhân lực sáng tạo, cơ chế tài chính, không gian sáng tạo và thị trường.

Lợi thế phát triển của Huế trước hết nằm ở di sản, lịch sử, kiến trúc, cảnh quan, nghệ thuật, ẩm thực, áo dài, thủ công truyền thống, âm nhạc và lối sống. Nếu những tài nguyên ấy chỉ được bảo tồn, giá trị tạo ra chủ yếu vẫn là tinh thần và giáo dục. Nhưng nếu được kết nối với thiết kế, công nghệ, điện ảnh, thời trang, trò chơi, truyền thông, du lịch và thương mại, chúng có thể trở thành nguồn lực của một nền kinh tế sáng tạo có bản sắc.

Một điểm nổi bật của dự thảo là đặt tài sản trí tuệ ở vị trí trung tâm. Các quy định về mã định danh, hồ sơ, định giá, sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm, sàn giao dịch và thương mại hóa cho thấy nỗ lực tạo ra một thị trường thực sự cho sản phẩm sáng tạo. Đây là hướng đáng ủng hộ, bởi một điểm yếu lâu nay của văn hóa Việt Nam là có nhiều tài nguyên, nhiều sáng tạo nhưng giá trị kinh tế tạo ra từ bản quyền, thương hiệu và khai thác tài sản trí tuệ còn thấp.

 Huế được kỳ vọng với sự phát triển công nghiệp văn hóa trong tương lai.

 Huế được kỳ vọng với sự phát triển công nghiệp văn hóa trong tương lai.

Dự thảo cũng rất cập nhật khi coi hạ tầng dữ liệu văn hóa số là cấu phần cốt lõi của hạ tầng công nghiệp văn hóa. Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các nền tảng phục vụ chuẩn hóa, kết nối, phân tích, khai thác dữ liệu được xác định khá rõ. Họa tiết cung đình, hoa văn pháp lam, mẫu thức kiến trúc, âm nhạc, trang phục, nghệ thuật trang trí, tư liệu Hán Nôm hay tri thức ẩm thực hoàn toàn có thể trở thành nguồn dữ liệu cho thiết kế, phim ảnh, trò chơi, quà tặng, thời trang và giáo dục số.

Tuy nhiên, chính tại đây cũng xuất hiện một khoảng trống cần làm rõ. Dữ liệu văn hóa không đồng nghĩa với tài sản có thể tự do khai thác. Đặc biệt với di sản, cần phân biệt dữ liệu được tạo lập từ ngân sách nhà nước, dữ liệu liên quan đến bảo vật, di tích, di sản phi vật thể, tri thức cộng đồng và tài sản trí tuệ của các chủ thể khác nhau. Nếu thiếu cơ chế rõ ràng về quyền khai thác, cấp phép và chia sẻ lợi ích, quá trình thương mại hóa dễ dẫn đến tranh chấp hoặc khai thác thiếu kiểm soát.

Dự thảo cho phép HĐND, UBND cấp tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ theo thẩm quyền, bố trí nguồn lực, phát triển hạ tầng, hỗ trợ lãi suất, chi phí sáng tạo, thu hút nhân lực chất lượng cao, sử dụng thiết chế văn hóa; đồng thời chủ động xác định không gian công cộng cho biểu diễn, trưng bày, giới thiệu sản phẩm và nghệ thuật đường phố.

Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng hay Huế có cấu trúc tài nguyên, thị trường và lợi thế khác nhau. Với Huế, địa phương cần đủ quyền lựa chọn các lĩnh vực mũi nhọn như du lịch văn hóa, thủ công mỹ nghệ, ẩm thực, áo dài, biểu diễn, điện ảnh, thiết kế và truyền thông; đồng thời xây dựng cơ chế hỗ trợ riêng cho các chuỗi giá trị này.

 Áo dài truyền thống đã trở thành trang phục quen thuộc của người trẻ Huế.

 Áo dài truyền thống đã trở thành trang phục quen thuộc của người trẻ Huế.

Tuy vậy, phân cấp hiện nay vẫn thiên về thực thi hơn là kiến tạo. Luật nên mạnh dạn cho phép địa phương thí điểm mô hình mới, thành lập quỹ hỗ trợ sáng tạo, đặt hàng sản phẩm công nghiệp văn hóa, áp dụng cơ chế ưu đãi đặc thù trong khung pháp luật chung và chủ động xây dựng hệ sinh thái theo lợi thế riêng.

Một nội dung rất đáng suy nghĩ từ thực tiễn Huế là mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp văn hóa và bảo tồn di sản. Dự thảo yêu cầu tuân thủ pháp luật về di sản, đồng thời quy định các dự án bảo tồn, số hóa, trưng bày, giáo dục, truyền thông và phát huy giá trị di sản được hưởng ưu đãi đầu tư.

Vấn đề thực tiễn là khi doanh nghiệp khai thác hình ảnh một bảo vật, nghi lễ, làng nghề hay di tích để tạo sản phẩm thương mại, quyền và giới hạn của họ đến đâu? Cộng đồng hoặc chủ thể nắm giữ di sản được hưởng lợi thế nào? Một phần doanh thu có nên quay trở lại cho bảo tồn? Khi nào sáng tạo phái sinh là hợp lý, và khi nào làm suy giảm giá trị di sản?

Có thể bổ sung nguyên tắc khai thác di sản trong công nghiệp văn hóa theo hướng: thương mại hóa phải bảo đảm tính xác thực, toàn vẹn, không làm suy giảm giá trị di sản; tôn trọng quyền của chủ thể, cộng đồng nắm giữ di sản và có cơ chế tái đầu tư hợp lý cho bảo tồn, trao truyền.

Dự thảo cũng dành nhiều chính sách cho tổ hợp sáng tạo, cụm và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa. Đây là tư duy phù hợp với đô thị có quỹ đất lớn, nhưng với Huế cần linh hoạt hơn. Hệ sinh thái sáng tạo có thể là mạng lưới phân tán gồm khu di sản, làng nghề, không gian nghệ thuật, bảo tàng, studio, trường học, tuyến phố văn hóa và cộng đồng sáng tạo. Vì thế, nên bổ sung mô hình “mạng lưới” hoặc “quần thể sáng tạo văn hóa”, phù hợp hơn với cấu trúc đô thị lịch sử.

Dự thảo đã chú ý đến đào tạo, cho phép nghệ sĩ, nghệ nhân tham gia giảng dạy và hỗ trợ đào tạo nhân lực tại địa phương. Nhưng trong cấu trúc của luật, doanh nghiệp, chủ thể sáng tạo và nhân lực chất lượng cao vẫn nổi bật hơn những người đang nắm giữ tri thức truyền thống.

 Huế là vùng đất có bề dày văn hóa di sản, là cơ hội, thế mạnh tạo ra giá trị kinh tế khi Luật Phát triển công nghiệp văn hóa ra đời.

 Huế là vùng đất có bề dày văn hóa di sản, là cơ hội, thế mạnh tạo ra giá trị kinh tế khi Luật Phát triển công nghiệp văn hóa ra đời.

Trong thực tế, một nghệ nhân may áo dài, người chế tác pháp lam, đúc đồng, làm hoa giấy hay một gia đình nắm giữ bí quyết ẩm thực có thể chính là chủ thể sở hữu “tài nguyên đầu vào” quan trọng nhất của chuỗi công nghiệp văn hóa. Vì vậy, cần có cơ chế bảo vệ quyền lợi của họ khi tri thức truyền thống được thương mại hóa, đặc biệt là quyền được ghi nhận, tham gia và chia sẻ lợi ích.

Dự thảo còn có một ý tưởng đáng chú ý là đánh giá “hàm lượng bản sắc Việt Nam” của sản phẩm công nghiệp văn hóa làm căn cứ ưu đãi. Bản sắc không thể được đo bằng số lượng hoa văn, biểu tượng hay yếu tố truyền thống xuất hiện trên sản phẩm. Vì thế, tiêu chí nên thiên về nguồn gốc sáng tạo, giá trị văn hóa, quyền của chủ thể, khả năng lan tỏa và đóng góp trở lại cho đời sống văn hóa hơn là hình thức biểu hiện.

Sau cùng, dự thảo chú ý đến hệ thống chỉ số phát triển công nghiệp văn hóa, gồm chỉ số về năng lực sáng tạo, hiệu quả kinh tế, mức thụ hưởng văn hóa và tác động tới di sản. Tuy nhiên, bộ chỉ số nên có hai tầng: chỉ số chung quốc gia và chỉ số đặc thù địa phương. Với Huế, ngoài doanh thu hay số doanh nghiệp, cần đo được số nghệ nhân sống được bằng nghề, số sản phẩm phát triển từ di sản, lượng tài sản trí tuệ được thương mại hóa, mức tái đầu tư cho bảo tồn và mức gia tăng chi tiêu văn hóa của du khách.

Có thể nói, Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đã cho thấy tư duy mới, hiện đại và có nhiều nội dung đáng kỳ vọng. Nhưng để thực sự trở thành động lực cho những địa phương giàu tài nguyên văn hóa như Huế, luật cần tiến thêm một bước: không chỉ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và thị trường, mà phải thiết kế cơ chế để di sản, bản sắc, tri thức truyền thống và cộng đồng cùng tham gia chuỗi giá trị và cùng được hưởng lợi.

Nếu làm được điều đó, luật sẽ không chỉ giúp phát triển một số ngành công nghiệp văn hóa, mà còn góp phần hình thành một mô hình phát triển mới: biến chiều sâu văn hóa thành năng lực cạnh tranh, biến di sản thành nguồn lực nhưng không làm nghèo đi di sản, và biến sáng tạo thành động lực tăng trưởng bền vững cho từng địa phương.

Bài: YÊN CHI - Ảnh: P. THÀNH

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/van-hoa-nghe-thuat/vai-suy-nghi-ve-du-thao-luat-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-169575.html