Văn hóa ẩm thực trong ứng xử

Vượt ra ngoài bữa ăn thường nhật, ẩm thực của người Cơ Tu đi theo lời ru, câu hát thể hiện sâu sắc lời răn dạy và cách ứng xử giữa cộng đồng với nhau.

Ẩm thực Cơ Tu coi trọng sự hài hòa của cộng đồng và chứa đựng kho tàng tri thức về cuộc sống. Ảnh: Khu du lịch Cổng trời Đông Giang

Ẩm thực Cơ Tu coi trọng sự hài hòa của cộng đồng và chứa đựng kho tàng tri thức về cuộc sống. Ảnh: Khu du lịch Cổng trời Đông Giang

Cảm nhận qua một số câu ca dao, tục ngữ, lời nói vần còn được lưu giữ đến nay, có thể thấy cả một lớp văn hóa sống động của cư dân miền núi, ở đó, thức ăn gắn với rừng với nghĩa tình và với nếp nhà.

Văn hóa cộng đồng

Trong đời sống của đồng bào Cơ Tu, lời nói dân gian luôn hiện diện như một phần của sinh hoạt thường ngày, gắn với cách con người ứng xử, lao động và tổ chức đời sống cộng đồng. Những câu thành ngữ, tục ngữ, lời hát lý, nói lý hay đồng dao được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, phản ánh rõ cách nhìn của cộng đồng về việc ăn uống, chia sẻ và gìn giữ mối quan hệ giữa con người với con người. Nhìn vào kho tàng lời nói dân gian ấy, có thể nhận ra diện mạo văn hóa ẩm thực của một cộng đồng miền núi, nơi thức ăn gắn liền với nghĩa tình và nếp sống.

Tinh thần chia sẻ sản vật và sự gắn kết cộng đồng thông qua thức ăn hiện lên rất rõ trong nhiều câu nói quen thuộc. Theo già làng C'Lâu Nhím (thôn Gừng, xã Đông Giang), trong điều kiện giao thông khó khăn trước đây, đời sống của đồng bào chủ yếu dựa vào rừng, nương rẫy và các hình thức trao đổi nội bộ. Những sản vật như chuối, mía, sắn, thịt săn bắt hay tấm vải thổ cẩm được trao đổi theo cách giản dị nhưng bền chặt, dựa trên sự đồng thuận và tin cậy lẫn nhau.

Minh chứng cho thấy, những câu nói như "May đoong aku prí, aku đoong amay atao", nghĩa là "Anh cho tôi chuối, tôi cho anh mía", phản ánh rất rõ cách trao đổi ngang giá trong cộng đồng. Đằng sau đó là nếp sống trọng tình, quen chia sẻ, ít tính toán hơn thiệt. "Qua các câu ca dao, tục ngữ, lời nói vần, có thể thấy ẩm thực luôn gắn với đời sống xã hội và cách cộng đồng tổ chức quan hệ giữa người với người, trong đó thức ăn trở thành phương tiện chia sẻ, giáo dục và gìn giữ bản sắc", già làng C'Lâu Nhím chia sẻ.

Từ việc cho nhau buồng chuối, khúc mía, đến phần thịt săn được hay gùi lúa mới, thức ăn đi vào mối quan hệ làng xóm, họ hàng và thông gia một cách tự nhiên.

Trong các mùa khác nhau của năm, đồng bào có những tập tục gắn với việc thăm hỏi và sẻ chia sản vật, như đem cơm thăm viếng đầu năm hay tặng củi trong mùa đông. Những hành động này duy trì sự gắn kết trong cộng đồng, đồng thời tạo nên một nếp sống chung, nơi mỗi người đều có trách nhiệm với nhau. Trong bối cảnh ấy, thức ăn đã trở thành một phần của đời sống văn hóa, góp phần giữ cho cộng đồng vận hành ổn định, bền chặt qua nhiều thế hệ.

Kho tàng tri thức dân gian

Lời nói dân gian của người Cơ Tu còn lưu giữ một kho tri thức bản địa phong phú về nguyên liệu và cách chế biến món ăn. Sống dựa nhiều vào rừng, suối và nương rẫy, đồng bào tích lũy được những hiểu biết cụ thể về từng loại rau rừng, củ, quả, côn trùng hay gia vị bản địa, đồng thời truyền lại cho thế hệ sau thông qua những câu nói ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thuộc.

Chỉ riêng việc phân biệt các loại rau rừng cũng cho thấy mức độ tinh tế trong tri thức bản địa. Người Cơ Tu nhận diện rõ các loại môn rừng như ađhấc và bhabhăng, biết loại nào thơm, loại nào ăn ngon, loại nào phù hợp khi nấu với thịt rừng hoặc dùng trong các món truyền thống. Những kinh nghiệm ấy không được ghi chép thành văn bản mà tồn tại trong lời nói hằng ngày, gắn với tập quán sinh hoạt và môi trường sống.

Có những câu nói tưởng như giản dị nhưng lại mở ra cả một hoàn cảnh sinh tồn. Câu "Cha riah pazấc tu", nghĩa là "rễ làm cơm, ngọn làm thức ăn", gợi lại thời điểm khó khăn, khi người dân tận dụng củ sắn làm lương thực, còn lá sắn trở thành nguồn thực phẩm chính trong bữa ăn. Từ một loại cây, cư dân miền núi biết cách khai thác nhiều phần khác nhau, đồng thời tạo ra những món ăn mang dấu ấn riêng của vùng rừng núi.

Cô giáo Alăng Thị Công, Trường Trung học phổ thông Lương Thế Vinh (phường Điện Bàn Đông) cho rằng lời nói dân gian của người Cơ Tu không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa ẩm thực và môi trường sống mà còn là phương thức truyền dạy hiệu quả. Khi người già dạy con cháu cách nhận biết một loại rau rừng, cách bắt dế hay những điều kiêng cữ khi đi bắt cá, họ đang truyền lại tri thức sinh tồn cùng với nếp sống cộng đồng. Những bài học ấy được chuyển tải qua lời nói ngắn gọn, dễ nhớ, gắn với thực tế đời sống nên có sức bền rất lâu.

"Ẩm thực của người Cơ Tu còn gắn với nghi lễ và nghệ thuật hát lý, nói lý trong cưới hỏi, kết nghĩa, tiếp khách. Trong những dịp ấy, thức ăn đi cùng lời mời, lời chào và cách bày tỏ tình cảm của chủ nhà. Người tiếp khách thường dùng lời hát để mời mọc, thể hiện sự khiêm nhường, đồng thời gửi gắm tấm lòng với người đến thăm. Các quy tắc ứng xử trong bữa ăn cũng được duy trì chặt chẽ, từ việc chia phần, nhường nhịn đến cách ngồi, cách uống, tạo nên một khuôn mẫu văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ", cô giáo Alăng Thị Công chia sẻ.

Có thể nhận ra ẩm thực trong đời sống người Cơ Tu gắn liền với cách cộng đồng duy trì quan hệ, truyền dạy tri thức và gìn giữ bản sắc. Mỗi câu nói, mỗi kinh nghiệm được lưu truyền đều hàm chứa một hệ giá trị về ứng xử với thiên nhiên và con người. Giữ được lời ăn, tiếng nói dân gian cũng là giữ được hồn cốt của ẩm thực và nếp sống - những giá trị bền bỉ làm nên sức sống của cộng đồng Cơ Tu hôm nay và mai sau.

AN NHIÊN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/van-hoa-am-thuc-trong-ung-xu-3333162.html