Văn hóa Phật giáo Việt Nam - thống nhất trong đa dạng

Một đặc trưng nổi bật và xuyên suốt của Phật giáo Việt Nam là tinh thần nhập thế - sự gắn bó mật thiết giữa đạo pháp và vận mệnh dân tộc. Khác với hình ảnh một tôn giáo thuần xuất thế, Phật giáo Việt Nam ngay từ sớm đã thể hiện khuynh hướng “hộ quốc an dân”, lấy việc phụng sự chúng sinh và đất nước làm một phương diện của tu hành.

Hòa thượng Thích Thọ Lạc, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Thư ký Hội đồng Trị sự, Trưởng ban Văn hóa Trung ương GHPGVN phát biểu tại buổi gặp mặt thông tin về chuỗi hoạt động kỷ niệm 45 năm thành lập Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Hòa thượng Thích Thọ Lạc, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Thư ký Hội đồng Trị sự, Trưởng ban Văn hóa Trung ương GHPGVN phát biểu tại buổi gặp mặt thông tin về chuỗi hoạt động kỷ niệm 45 năm thành lập Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Truyền thống đồng hành cùng dân tộc trở thành một mẫu số chung

Lịch sử ghi nhận vai trò của Thiền sư Vạn Hạnh trong việc kiến lập triều Lý, của các thiền sư đời Trần trong sự nghiệp giữ nước, và tiêu biểu là hình tượng Trần Nhân Tông - vị vua hai lần lãnh đạo kháng chiến chống ngoại xâm rồi xuất gia, sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, thống nhất Phật giáo và đưa đạo vào đời.

Phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam nêu cao chính là sự kết tinh có tính cương lĩnh của truyền thống nhập thế lâu đời này, và là một sợi dây tinh thần thống nhất các bộ phận đa dạng của Phật giáo nước nhà. Cần nhấn mạnh rằng tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam không mâu thuẫn với lý tưởng giải thoát xuất thế, mà là sự triển khai lý tưởng ấy trong điều kiện cụ thể của một dân tộc thường xuyên phải đối mặt với họa xâm lăng và yêu cầu dựng nước, giữ nước. Lòng từ bi được cụ thể hóa thành tình yêu nước thương dân; hạnh nguyện độ sinh được thực hành qua các hoạt động giáo dục, y tế và từ thiện xã hội. Truyền thống này vẫn tiếp nối mạnh mẽ trong đời sống Phật giáo hiện nay, khi tăng ni, Phật tử thuộc các hệ phái khác nhau cùng tham gia công tác an sinh, cứu trợ và phụng sự cộng đồng - một lĩnh vực hoạt động chung góp phần gắn kết các bộ phận đa dạng của Giáo hội quanh một mục tiêu thống nhất.

Nghịch lý thú vị của văn hóa Phật giáo Việt Nam là ở chỗ chính khả năng dung hợp - vốn dường như sản sinh ra đa dạng - lại là một cơ chế thống nhất. Khi du nhập, Phật giáo không loại trừ các hệ thống tín ngưỡng, tư tưởng bản địa mà chủ động hòa quyện với chúng, tạo nên những phức thể văn hóa - tôn giáo đặc thù. Hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên” - sự dung thông giữa Phật, Nho, Đạo - là một biểu hiện tư tưởng tiêu biểu, theo đó ba hệ thống không bài xích nhau mà bổ sung cho nhau trong đời sống tinh thần người Việt.

Hiện tượng dung hợp này có gốc rễ lịch sử sâu xa và đạt tới độ chín muồi vào thời Lý - Trần, khi tinh thần “cư trần lạc đạo” (sống giữa đời mà vui với đạo) của Thiền phái Trúc Lâm thể hiện một thế giới quan hài hòa giữa xuất thế và nhập thế, giữa Phật và đời.

Đa dạng nhưng thống nhất, không có sự tách biệt rạch ròi, Phật vẫn nhập thế lo phần xã hội, cùng Đạo lo dưỡng tâm/ sinh, hoà hợp với tự nhiên, bảo vệ môi trường. Ở bình diện tín ngưỡng dân gian, Phật giáo hòa quyện với tục thờ Mẫu, thờ thần, thờ tổ tiên, tạo nên những không gian thờ tự và thực hành tổng hợp mà ranh giới giữa “Phật” và “thần”, “Thánh”, “Mẫu” nhiều khi trở nên uyển chuyển.

Điều đáng nói là cơ chế dung hợp này vận hành ở khắp các vùng miền và cộng đồng, trở thành một “ngữ pháp văn hóa” chung của người Việt trong cách tiếp nhận và thực hành tôn giáo. Chính lối tư duy bao dung, không độc tôn, không cực đoan ấy đã tạo nên một mặt bằng tinh thần chung, khiến các sắc thái Phật giáo khác nhau có thể cùng tồn tại trong hòa hợp thay vì xung đột. Như vậy, dung hợp không chỉ tạo ra đa dạng mà còn kiến tạo một phong cách văn hóa thống nhất - đó là tính khoan dung và khả năng cộng sinh.

Định hình bản sắc văn hóa dân tộc trên cơ sở tinh thần khoan dung, cởi mở

Có thể khẳng định thống nhất và đa dạng trong văn hóa Phật giáo Việt Nam tồn tại trong quan hệ biện chứng, quy định và làm điều kiện cho nhau. Một mặt, đa dạng là phương thức tồn tại sống động của tính thống nhất: cái cốt lõi chung - giáo lý, lý tưởng giải thoát, tinh thần nhập thế - chỉ có thể hiện thực hóa thông qua vô số hình thức cụ thể phù hợp với từng vùng miền, tộc người, thời đại. Không có đa dạng, sự thống nhất sẽ trở thành đồng nhất khô cứng, mất khả năng thích ứng và lan tỏa. Mặt khác, thống nhất là điều kiện để bảo tồn và phát huy đa dạng: chính nhờ có nền tảng chung và cơ chế dung hợp khoan dung mà các sắc thái khác biệt được nuôi dưỡng trong hòa hợp thay vì bị triệt tiêu hay đẩy tới xung đột. Đặc trưng này hàm chứa những giá trị văn hóa sâu sắc. Trước hết, nó góp phần định hình bản sắc văn hóa dân tộc trên cơ sở tinh thần khoan dung, cởi mở và khả năng cộng sinh - những phẩm chất giúp văn hóa Việt Nam tiếp biến mà không đánh mất mình. Thứ hai, mô hình thống nhất trong đa dạng của Phật giáo là một nguồn lực củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khi các cộng đồng tôn giáo và tộc người khác nhau tìm được tiếng nói chung trong một thiết chế và một hệ giá trị chia sẻ. Trong bối cảnh đương đại, đặc trưng này gợi mở nhiều hàm ý thực tiễn.

Nhìn từ góc độ nguồn lực, kho tàng di sản văn hóa Phật giáo phong phú có thể được xem như một dạng “vốn văn hóa” của quốc gia - một nguồn vốn biểu tượng có khả năng chuyển hóa thành giá trị xã hội và kinh tế khi được nhận diện và phát huy đúng cách. Các trung tâm Phật giáo gắn với di tích lịch sử - văn hóa, các lễ hội và loại hình nghệ thuật Phật giáo đặc sắc của từng vùng, từng tộc người là chất liệu cho phát triển du lịch văn hóa - tâm linh có trách nhiệm và cho việc quảng bá hình ảnh đất nước. Song việc chuyển hóa nguồn vốn này cần đặt trên nguyên tắc bảo đảm tính chân thực và tính thiêng của di sản, tránh xu hướng sân khấu hóa hay thương mại hóa làm xói mòn chính những giá trị tạo nên sức hấp dẫn của nó.

Văn hóa Phật giáo Việt Nam tựa như một dòng sông lớn được hợp thành từ nhiều chi lưu - mỗi chi lưu mang phù sa và sắc nước của vùng đất nó chảy qua, song tất cả cùng hòa vào một dòng chung và cùng hướng về biển cả. Sự thống nhất ở đây không xóa bỏ sự khác biệt của các chi lưu; trái lại, chính sự góp mặt của các chi lưu mới làm nên sự trù phú của dòng sông. Đó cũng là bài học mà lịch sử văn hóa Phật giáo Việt Nam để lại: sức mạnh bền vững của một nền văn hóa không nằm ở sự đồng nhất, mà nằm ở khả năng quy tụ cái đa dạng trong một tinh thần khoan dung và cố kết. Sự gặp gỡ giữa hai chiều kích ấy không phải là một trạng thái tĩnh tại mà là một quá trình vận động: cái chung không ngừng tự biểu hiện qua những cái riêng, và những cái riêng không ngừng quy chiếu về cái chung. Chính cơ chế này đã giúp Phật giáo Việt Nam vừa giữ được căn cốt, vừa linh hoạt thích ứng, vừa cố kết, vừa phong phú.

Trong bối cảnh hiện nay - khi hội nhập quốc tế và chuyển đổi số vừa mở ra cơ hội, vừa đặt ra thách thức đối với bản sắc - việc nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo đặc trưng thống nhất trong đa dạng có ý nghĩa thiết thực: nó là cơ sở khoa học cho việc bảo tồn di sản một cách tôn trọng sự khác biệt, cho việc phát huy nguồn lực văn hóa Phật giáo vào phát triển bền vững, và cho việc củng cố tinh thần khoan dung, cộng sinh - một giá trị cốt lõi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đặc trưng ấy, vì vậy, không chỉ là di sản của quá khứ mà còn là nguồn lực cho hiện tại và tương lai.

Trong khuôn khổ chuỗi sự kiện kỷ niệm 45 năm thành lập Ban Văn hóa Trung ương GHPG Việt Nam tổ chức trong 2 ngày 17, 18/10/2026 tại Chùa Tam Chúc, tỉnh Ninh Bình, Ban Văn hóa Trung ương GHPG Việt Nam, Ban Dân tộc và Tôn giáo, Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam, Báo Đại đoàn kết, Viện Dân tộc học và Tôn giáo học (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), đồng chủ trì Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Văn hóa Phật giáo Việt Nam trong kỷ nguyên số: Thực tiễn và định hướng phát triển” nhằm trao đổi về thực tiễn phát huy giá trị văn hóa Phật giáo trong bối cảnh công nghệ số, những yêu cầu đặt ra đối với số hóa di sản, xây dựng cơ sở dữ liệu, truyền thông số và phát triển nguồn nhân lực văn hóa.

Đặc biệt, phiên tọa đàm diễn ra trong Hội thảo chiều 17/10 nhấn mạnh đến chủ đề “Vai trò của văn hóa Phật giáo trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên số”.

Hòa thượng Thích Thọ Lạc

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/van-hoa-phat-giao-viet-nam-thong-nhat-trong-da-dang.html