Văn hóa thời Trần - sức bền nội sinh của Đại Việt

Tại hội thảo 'Vương triều Trần: tầm vóc lịch sử và giá trị thời đại' sáng 10/1, các nhà khoa học khẳng định, văn hóa thời Trần là mô hình phát triển văn hóa tương đối hoàn chỉnh trong lịch sử trung đại Việt Nam. Ở mô hình ấy, các thành tố cốt lõi liên kết thành một cấu trúc tạo chuẩn mực đạo lý, từ đó hình thành sức bền nội sinh của xã hội Đại Việt.

Văn học, nghệ thuật trở thành ký ức/tư liệu sống

Một trong những thành tựu căn bản về văn hóa thời Trần, theo PGS. TS. Dương Thị Thu Hà, Viện Trần Nhân Tông, Đại học Quốc gia Hà Nội, trước hết thể hiện ở lĩnh vực văn học. Văn chương yêu nước (hịch, phú, thơ), văn học thiền (kệ, thơ, phú), cùng văn bia, bi ký góp phần định hình và tạo ra dấu ấn đặc sắc của văn hóa dân tộc. Văn học không tồn tại như những thể loại biệt lập, mà cùng tham gia kiến tạo một tự sự lịch sử.

Mỹ thuật thời Trần mang đậm nét khỏe khoắn, phóng khoáng, giàu tính dân tộc

Mỹ thuật thời Trần mang đậm nét khỏe khoắn, phóng khoáng, giàu tính dân tộc

Những văn bản như Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn không chỉ là áng văn chính luận cổ động quân sự, mà còn là một tuyên ngôn đạo đức, nơi lòng trung quân, ý thức cộng đồng và danh dự cá nhân được đặt trong mối quan hệ hữu cơ. Các tác phẩm văn học thiền như Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông cho thấy một cách thức kiến tạo, dựa trên minh triết nhập thế, nơi giác ngộ không tách khỏi đời sống xã hội.

“Hệ thống văn bia, đặc biệt tại các trung tâm Phật giáo như Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Côn Sơn - Kiếp Bạc, Phổ Minh... cũng cho thấy những nhận thức đầy đủ và toàn diện về văn học thời Trần. Chính sự đan cài giữa văn học, sử học và bia ký, mà văn học thời Trần không bị đóng khung trong triều đại, mà trở thành ký ức/tư liệu sống, có khả năng diễn giải lại và tái tạo trong các bối cảnh lịch sử khác nhau”, PGS. TS. Dương Thị Thu Hà nhấn mạnh.

Về giá trị chữ Nôm thời Trần, TS. Trần Thị Giáng Hoa, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, các bộ chính sử xác định đã có nhiều tác giả sử dụng chữ Nôm để sáng tác thơ phú, như Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Trần Khâm (tức Trần Nhân Tông), Lý Đạo Tái (tức sư Huyền Quang), Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An, Hồ Quý Ly. Ngoài sáng tác, chữ Nôm còn được dùng để chuyển dịch tác phẩm Hán văn sang Việt văn như Thiền Tông Khóa hư ngữ lục của Thiền sư Tuệ Tĩnh. Và chữ Nôm cũng được tìm thấy rải rác trong các văn bia, như Sùng Quang tự chung (soạn năm 1320), Đại Bi Diên Minh tự bi (soạn năm 1327), Sùng Thiên tự bi (soạn năm 1331), Thiên Long tự thường trụ tam bảo vật kí (soạn năm 1342), Thắng Nghiệp luật tự thạch trụ (soạn năm 1360)... Đây là khối tác phẩm có giá trị, khẳng định thời kỳ phát triển của văn học, nghệ thuật thời Trần.

Kiến trúc và mỹ cảm biểu tượng gần với đời sống

Theo nghiên cứu mỹ thuật của GS. Trần Lâm Biền và PGS. TS. Chu Quang Trứ, mỹ thuật thời Trần không giữ vai trò trang trí cho quyền lực, cũng không nhằm phô diễn sự xa hoa của triều đình, mà như một ngôn ngữ biểu tượng của tinh thần thời đại. Mỹ thuật thời kỳ này mang diện mạo riêng biệt: khỏe, gọn, chắc, ít trang sức thừa, giàu tính khối và nhịp điệu, phản ánh trực tiếp một xã hội thượng võ, thực tiễn và nhập thế. Điều này thể hiện nhất quán trong kiến trúc chùa tháp, điêu khắc đá, trang trí bia ký và đồ thờ: hình rồng thời Trần ngắn, khỏe, ít uốn lượn; hoa văn giản lược, nhấn vào nhịp khối thay vì đường cong mềm mại; bố cục thiên về ổn định và cân bằng, không cầu kỳ đối xứng.

Mỹ thuật Việt Nam truyền thống luôn gắn cái đẹp với đạo lý sống và môi trường cộng đồng, không tách rời nghệ thuật khỏi sinh hoạt xã hội. Theo GS. Trần Lâm Biền, thời Trần, nguyên lý này tiếp tục được duy trì, từ lý tưởng siêu thoát sang lý tưởng nhập thế. Nếu thời Lý lấy Phật giáo làm trung tâm biểu tượng (Phật - Bồ Tát - cõi tịnh), thì thời Trần đưa con người lịch sử trở lại trung tâm mỹ cảm. So với mỹ thuật Lê sơ sau đó, mỹ thuật Trần lại giữ được tính linh hoạt và độ mở biểu tượng, chưa bị đóng khung trong những mô thức nghi lễ cứng nhắc, mà mang hơi thở dân gian và tinh thần Phật giáo nhập thế.

TS. Dương Thị Thu Hà cho biết, điều này lý giải vì sao điêu khắc thời Trần giảm tinh thần linh hóa, tăng tính thế tục; hình tượng trở nên gần với đời sống, mang sức nặng vật chất và tâm thế hành động. Đây là biểu hiện của minh triết thời Trần: cái đẹp không đối lập với cái thiện và nghệ thuật không đứng ngoài đạo lý. Mỹ thuật trở thành một hình thức “giáo dục thầm lặng”, nơi cộng đồng tiếp nhận các giá trị thông qua cảm thức không gian, hình khối và biểu tượng.

Nghiên cứu của PGS. TS. Trần Thị Biển, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cũng cho thấy, điêu khắc Phật giáo thời Trần rất phát triển với điện thờ Phật. Một số ngôi chùa như: Đại Bi (Dương Liễu, Hà Nội), Bối Khê (Thanh Oai, Hà Nội), Xuân Lũng (Lâm Thao, Phú Thọ)… hiện còn lưu giữ bệ tam thế, còn gọi là bàn thờ Phật bằng chất liệu đá, tạo ra một bước thay đổi trang trí tượng trong chùa, có thể được xem là tác phẩm điêu khắc Phật giáo thời nhà Trần. Bên cạnh đó là những bức chạm trên gỗ tại chùa Thái Lạc (Hưng Yên), chùa Bối Khê (Hà Nội), chùa Phổ Minh (Nam Định), chùa Dâu (Bắc Ninh)... hướng về đề tài rồng, phượng, người chim hay nhạc công, hoa sen, dây hoa móc cuộn, sóng nước, mây trời; phản ánh ước nguyện của con người, khát khao của các nghệ sĩ xưa thể hiện trên các công trình...

Có thể nói, thời kỳ nhà Trần con người đã dùng nghệ thuật tạo hình để nuôi dưỡng hoài bão xây dựng nhà nước phong kiến quy mô, mà tiêu biểu là văn học, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc và trang trí, với những giá trị như còn nguyên vẹn đến hôm nay. Đây là định hướng tốt đẹp cho xã hội Việt Nam hiện đại biết gìn giữ ý chí tự cường, đoàn kết dân tộc, khoan dung, sáng tạo, trọng đạo lý, từ vương triều Trần.

Hương Sen

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/van-hoa-thoi-tran-suc-ben-noi-sinh-cua-dai-viet-10403281.html