Văn học Sơn La - nhịp cầu cảm xúc chan chứa tình nghĩa Việt - Lào

Có những mối quan hệ không chỉ được kiến tạo bằng hiệp định, văn kiện và những chuyến thăm cấp cao, mà còn được nuôi dưỡng bằng ký ức, bằng nước mắt, bằng máu xương và bằng văn chương. Tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào là một mối quan hệ như thế. Ở miền biên viễn Tây Bắc, văn học Sơn La đã trở thành một nhịp cầu mềm mại, bền bỉ, lặng thầm mà sâu xa nối hai dân tộc bằng những trang viết chan chứa nghĩa tình.

Di tích quốc gia đặc biệt Khu di tích lịch sử cách mạng Việt Nam - Lào, tại bản Lao Khô 1, xã Phiêng Khoài.Ảnh: Quàng Hưởng

Di tích quốc gia đặc biệt Khu di tích lịch sử cách mạng Việt Nam - Lào, tại bản Lao Khô 1, xã Phiêng Khoài.Ảnh: Quàng Hưởng

"Việt - Lào hai nước chúng ta/Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long” - Câu thơ của Hồ Chí Minh đã thấm vào đời sống tinh thần của bao thế hệ văn nghệ sĩ Sơn La. Từ đó, tình hữu nghị không còn là khái niệm chính trị mà trở thành một miền cảm xúc. Văn xuôi Sơn La viết về Việt - Lào trước hết là văn xuôi của ký ức. Nhưng đó không phải thứ ký ức khô khan của niên biểu, mà là ký ức có mùi khói súng, có tiếng rừng thở gấp, có bước chân hành quân lẫn trong mưa nguồn. Trong truyện ngắn Khói chiều biên ải, Kiều Duy Khánh đã kể lại câu chuyện ở Phiêng Sa và làm sống dậy một thời khắc thiêng liêng, khi bà con dân bản “nhường cơm sẻ áo”, nuôi giấu đồng chí Cay Xỏn Phômvihản giữa vòng vây hiểm nguy của thực dân Pháp. Những chi tiết hư cấu như chiếc lược sừng, lá thư tình... chỉ là lớp ánh sáng nghệ thuật phủ lên một lõi sự thật, sự hy sinh vô danh của nhân dân biên giới đã góp phần làm nên vận mệnh một dân tộc. Đọc những trang văn ấy, ta không chỉ thấy lịch sử mà thấy trái tim của người Sơn La đập chung nhịp với trái tim người Lào. Ở Bên kia Chùa Tháp, Trần Nguyên Mỹ để cho những người con hai nước cắt máu ăn thề giữa ngôi chùa biên giới. Lời thề “Uống chung một dòng sông, chung một kẻ thù” vang lên giản dị mà thẳm sâu. Văn học ở đây đã làm một điều kỳ diệu, biến tình đồng minh thành tình anh em.

Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, hàng nghìn thanh niên Sơn La tình nguyện sang chiến trường Lào. Văn học không để những năm tháng ấy chìm vào quên lãng. Trong Xây xa na - chiến thắng, Bùi Kim Thiệu kể lại trận đánh sân bay Luông Pha Bang với nhịp văn dồn dập, hào sảng. Nhưng phía sau những con số chiến công là hình ảnh những người lính Việt - Lào cùng chia nhau từng ngụm nước, từng băng đạn, cùng sống, cùng chết dưới một bầu trời lửa. Ở Ấn tượng Hủa Phăn, Nguyễn Minh Quý viết về những giọt nước mắt chia tay. “Có nhiều bè bạn. Nhưng có được một người bạn thủy chung thật khó”, câu văn ấy vang lên như một chiêm nghiệm lớn, tình bạn giữa hai dân tộc không phải thứ tình cảm tự nhiên có sẵn, mà được tôi luyện qua gian nan, thử thách, đau thương, mất mát... Thơ Sơn La cũng khắc ghi những điều ấy. Hoàng Quách Cầu viết “Lấp lánh phía sau là máu xương đồng đội”, một câu thơ ngắn mà mở ra cả một chiều sâu bi tráng. Tình hữu nghị Việt - Lào được xây bằng lời ca và cả bằng máu đỏ của những người lính nằm lại nơi khe lạnh rừng sâu.

Nếu có một không gian thiêng trong văn học Sơn La về Việt - Lào thì đó là Lao Khô, một địa danh đã trở thành biểu tượng của sự chở che, của niềm tin gửi gắm giữa hai dân tộc. Trong thơ Kiều Duy Khánh, Lao Khô “tự vẽ dáng mình vào dáng bay lịch sử”. Một hình ảnh đẹp và táo bạo. Mảnh đất nghèo năm xưa đã hóa thân thành cánh chim nâng đỡ lịch sử. Bên Đài hữu nghị, các nhà thơ gặp nhau ở cảm xúc về hình tượng hoa Sen và hoa Chăm Pa. Hai loài hoa của hai quốc gia cùng nở trong một khối tượng đài. Hoàng Minh Niệm viết về “Đóa sen ngời ôm ấp đóa Chăm pa”; Bùi Thu Yên nhấn mạnh “Hoa Chăm Pa trắng trong, cánh Sen hồng thắm đỏ máu trái tim”. Hai loài hoa ấy là hình ảnh của hai dân tộc khác ngôn ngữ, khác phong tục nhưng chung một khát vọng hòa bình. Văn học đã làm cho biểu tượng ấy sống động, có hương, có sắc, có linh hồn.

Điều đáng quý là văn học Sơn La không dừng lại ở quá khứ, mà tiếp tục đồng hành với hiện tại và tương lai. Trong những trang ký của Lê Phúc, Trần Đại Tạo, Lường Văn Tộ, Hải Băng, Đắc Văn, Hoàng Đình Khầu, Nguyễn Tuấn... ta thấy Hủa Phăn, Viêng Xay, Luông Pha Bang, Bò Kẹo... đổi thay từng ngày với trường học, cầu đường, khu du lịch... kết quả của sự hợp tác bền bỉ giữa Sơn La và các tỉnh nước bạn Lào. Trong Bản tình ca vang mãi, Thành Đạo để cho thế hệ trẻ ấp ủ ý tưởng tour du lịch lịch sử Việt - Lào, khát vọng ấy không chỉ là làm kinh tế mà là cách kể tiếp câu chuyện hữu nghị bằng ngôn ngữ của thời đại mới. Từ “chung chiến hào” đến “chung nhịp phát triển”, văn học đã phản ánh một hành trình dài. Hành trình mà tình hữu nghị không ngừng được làm mới.

Có thể nói, nếu ngoại giao là cây cầu hữu hình nối hai quốc gia thì văn học là sợi dây vô hình nối hai trái tim. Những trang văn, vần thơ của các tác giả Sơn La đã góp phần lưu giữ ký ức chung, tôn vinh những con người bình dị mà cao cả, chuyển hóa lịch sử thành cảm xúc, biến địa danh thành biểu tượng, biến tình đoàn kết thành giá trị tinh thần bền vững.

Trong thời đại hội nhập hôm nay, khi thế hệ trẻ không còn trải qua chiến tranh thì chính văn học là người kể chuyện trung thành nhất và nhắc rằng tình hữu nghị Việt Nam - Lào không phải là khẩu hiệu, mà là một phần máu thịt của lịch sử. Và khi những câu thơ còn được đọc, những trang ký còn được mở, thì tình nghĩa “sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long” sẽ còn ngân vang như dòng suối biên cương không bao giờ ngừng chảy, như hoa Sen và hoa Chăm Pa mãi mãi tỏa hương nơi cột mốc trời xanh.

Hoàng Kim Ngọc (CTV)

Nguồn Sơn La: https://baosonla.org.vn/van-hoa-xa-hoi/van-hoc-son-la-nhip-cau-cam-xuc-chan-chua-tinh-nghia-viet-lao-ns0N4Q5DR.html