Vang mãi tiếng đàn Ta lư và khèn bè của đồng bào Bru-Vân Kiều

Với đồng bào Bru-Vân Kiều đang sinh sống ở những bản làng nép mình bên dãy Trường Sơn, đàn Ta lư và khèn bè không chỉ là nhạc cụ, mà còn là ký ức cộng đồng, là sợi dây nối quá khứ với hiện tại, là hồn cốt văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Trong nhịp sống hiện đại, những nghệ nhân vẫn lặng lẽ giữ lửa để tiếng đàn, tiếng khèn không bị chìm khuất giữa dòng chảy thời gian.

Đồng bào Bru-Vân Kiều sử dụng khèn bè trong những dịp lễ hội. Ảnh: Việt Bắc

Đồng bào Bru-Vân Kiều sử dụng khèn bè trong những dịp lễ hội. Ảnh: Việt Bắc

Âm thanh của núi rừng và ký ức cộng đồng

Từ bao đời nay, đồng bào Bru-Vân Kiều sinh sống dọc phía Đông dãy Trường Sơn, trải dài qua tỉnh Quảng Trị và thành phố Huế. Trong kho tàng văn hóa truyền thống phong phú của dân tộc này, âm nhạc dân gian và các loại nhạc cụ truyền thống giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Người Bru-Vân Kiều có nhiều nhóm địa phương như Trì, Khùa, Ma Coong... với dân số khoảng 95 nghìn người. Một nét văn hóa đặc sắc là phần lớn đồng bào ở Bắc Trung Bộ đều mang họ Hồ để bày tỏ lòng kính yêu đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và niềm tin son sắt với Đảng.

Nếu cồng chiêng là tiếng gọi của cộng đồng, thì đàn Ta lư và khèn bè lại là tiếng nói của tâm hồn. Những thanh âm ấy hiện diện trong hầu hết các lễ hội lớn của người Bru-Vân Kiều như lễ mừng lúa mới, lễ hội cồng chiêng, lễ cải táng A riêu Ping, Tết cổ truyền Ada Pựt hay lễ uống rượu thề. Mỗi dịp hội làng, bên bếp lửa bập bùng, tiếng đàn Ta lư hòa cùng những làn điệu dân ca Tà oải, Xa nớt, Roai troong tạo nên không gian văn hóa đậm đặc bản sắc. Không chỉ xuất hiện trong lễ hội, âm thanh của đàn Ta lư và khèn bè còn theo chân người dân vào đời sống thường nhật. Đó là tiếng đàn của những chàng trai, cô gái trong đêm trăng bản; là âm thanh vang lên sau mùa gặt bội thu; là lời tâm tình gửi gắm niềm vui, nỗi nhớ và khát vọng về cuộc sống bình yên, no đủ.

Ở thôn A Xóc Cha Lỳ, xã biên giới Hướng Lập, tỉnh Quảng Trị, chị Hồ Thị Tâm đã có hơn 30 năm gắn bó với đàn Ta lư. Không chỉ biểu diễn thành thạo, chị còn tự tay chế tác được những cây đàn mang đậm dấu ấn truyền thống. Theo chị Tâm, nếu như trước đây, đàn Ta lư chủ yếu được sử dụng trong phạm vi bản làng thì nay, loại nhạc cụ này đã bước ra sân khấu, tham gia nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật phục vụ công chúng. Việc kết hợp đàn Ta lư với các làn điệu dân ca truyền thống và những hình thức biểu diễn mới đã giúp loại nhạc cụ này có thêm cơ hội tiếp cận với thế hệ trẻ.

Tuy nhiên, để những giá trị văn hóa ấy thực sự sống được trong đời sống đương đại vẫn cần những giải pháp đồng bộ hơn. Không chỉ dừng lại ở việc biểu diễn trong các dịp lễ hội, cần tạo điều kiện để nghệ nhân truyền dạy kỹ năng chế tác và sử dụng nhạc cụ cho lớp trẻ; xây dựng các câu lạc bộ văn hóa dân gian; đưa âm nhạc truyền thống vào trường học và các hoạt động cộng đồng. Thực tế cho thấy, nhiều giá trị văn hóa chỉ có thể tồn tại khi được trao truyền liên tục giữa các thế hệ. Một khi lớp nghệ nhân cao tuổi không còn mà không có người kế tục, những tri thức dân gian tích lũy qua hàng trăm năm rất dễ bị thất truyền. Bởi vậy, việc bảo tồn đàn Ta lư, khèn bè không chỉ là bảo tồn một loại nhạc cụ, mà còn là gìn giữ cả một không gian văn hóa, một hệ thống tri thức dân gian và bản sắc cộng đồng.

Nghệ nhân Hồ Thị Tâm giới thiệu các làn điệu dân ca của đồng bào Bru-Vân Kiều qua tiếng đàn Ta lư. Ảnh: Phạm Tiến

Nghệ nhân Hồ Thị Tâm giới thiệu các làn điệu dân ca của đồng bào Bru-Vân Kiều qua tiếng đàn Ta lư. Ảnh: Phạm Tiến

Những người giữ hồn nhạc cụ truyền thống

Ở tuổi 65, nghệ nhân Hồ Văn Vát, bản Ka Tăng, xã biên giới Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị vẫn miệt mài với công việc chế tác và biểu diễn đàn Ta lư, khèn bè. Đối với ông, mỗi nhạc cụ làm ra không chỉ là sản phẩm thủ công, mà còn là sự gửi gắm tình yêu dành cho văn hóa dân tộc.

Theo nghệ nhân Hồ Văn Vát, đàn Ta lư truyền thống có hai dây, bên trong thùng đàn được khoét rỗng. Loại nhạc cụ này thường được sử dụng trong các cuộc hát giao duyên của nam nữ thanh niên hoặc kết hợp biểu diễn các ca khúc hiện đại. Tiếng đàn trong trẻo, bay bổng như mang theo hơi thở của núi rừng vượt qua dãy Trường Sơn hùng vĩ. Để chế tác được một cây đàn Ta lư hoàn chỉnh là cả quá trình công phu. Người thợ phải chọn được loại gỗ phù hợp, thường là gỗ mít già hoặc gỗ mớc. Sau khi khai thác, gỗ phải được phơi khô trong nhiều tháng để tránh cong vênh, nứt nẻ. Công đoạn đục đẽo thùng đàn hoàn toàn được làm bằng thủ công, đòi hỏi sự chính xác cao. Chỉ cần sai lệch một chút về độ dày, mỏng cũng có thể làm thay đổi âm sắc của cây đàn.

Khó hơn cả là chế tác khèn bè. Một chiếc khèn bè truyền thống của người Bru-Vân Kiều thường gồm 14 ống trúc ghép lại với nhau, trong đó, bộ phận quyết định chất lượng âm thanh là lưỡi gà. Để có được một chiếc khèn chuẩn âm, người thợ phải chọn đúng loại trúc không quá già cũng không quá non. Theo kinh nghiệm dân gian, trúc làm khèn phải được chặt vào ban đêm, vào khoảng cuối xuân, đầu hè. Sau đó là hàng loạt công đoạn tỉ mỉ như vót, khoan, phơi nắng, hơ lửa, chỉnh âm... kéo dài gần một tháng mới hoàn thành một sản phẩm. “Đàn Ta lư, khèn bè là hồn cốt văn hóa của đồng bào Bru-Vân Kiều. Nếu không có người nối tiếp thì sau này sẽ mất đi” - nghệ nhân Hồ Văn Vát trăn trở. Nỗi lo ấy không phải không có cơ sở. Trong bối cảnh đời sống hiện đại ngày càng phát triển, nhiều loại hình văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một. Những nghệ nhân cao tuổi chính là những người đang ngày đêm níu giữ những giá trị văn hóa quý báu của dân tộc mình.

Nhắc đến những người giữ gìn văn hóa Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị, không thể không nhắc tới nghệ nhân Hồ Văn Chơn ở thôn Kỳ Tăng, xã Lìa. Dù tuổi đã cao, nhưng mỗi khi cất tiếng hát dân ca hay thổi khèn bè, tù và, đánh cồng chiêng, ông vẫn giữ được sự say mê như thuở thanh xuân. Nhiều người trong vùng gọi ông là “kho tư liệu sống” của văn hóa Bru-Vân Kiều. Điều đặc biệt là ông Hồ Văn Chơn hiện là một trong số rất ít người có thể chế tác thành thạo nhiều loại nhạc cụ truyền thống, trong đó, nổi bật nhất là khèn bè với âm thanh chuẩn và hình thức đẹp mắt. Nhiều năm qua, ông đã bỏ ra không ít tiền bạc, thời gian để sưu tầm, lưu giữ khoảng 10 loại nhạc cụ truyền thống. Đối với ông, đó là những báu vật vô giá của tổ tiên để lại.

Hiện nay, riêng xã Lìa vẫn còn khoảng 40 nghệ nhân đang hoạt động trong nhiều lĩnh vực văn hóa truyền thống, trong đó có khoảng 10 nghệ nhân am hiểu nhạc cụ và âm nhạc dân gian, 20 nghệ nhân đan lát và 10 nghệ nhân dệt thổ cẩm. Đây là nguồn lực quý giá để địa phương tiếp tục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Bru-Vân Kiều.

Hiện nay, giữa nhịp sống hiện đại, những nghệ nhân như Hồ Văn Vát, Hồ Thị Tâm hay Hồ Văn Chơn đang lặng lẽ làm công việc của những người giữ lửa. Họ không chỉ bảo tồn những nhạc cụ truyền thống, mà còn bảo tồn ký ức văn hóa, bảo tồn bản sắc của cả một cộng đồng. Mỗi thanh âm vang lên từ cây đàn Ta lư, mỗi giai điệu réo rắt của khèn bè đều mang theo câu chuyện về lịch sử, về đời sống và tâm hồn của người Bru-Vân Kiều. Đó là những giá trị không thể đo đếm bằng vật chất, nhưng lại làm nên sức sống trường tồn của văn hóa dân tộc. Để tiếng đàn ấy còn mãi ngân vang trên những sườn núi Trường Sơn, cần sự chung tay của cộng đồng, của các cấp chính quyền và ngành văn hóa trong việc bảo tồn, truyền dạy và tạo môi trường để các di sản sống tiếp trong đời sống hôm nay.

Việt Bắc

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/vang-mai-tieng-dan-ta-lu-va-khen-be-cua-dong-bao-bru-van-kieu-post504926.html