Vật liệu xây dựng - thách thức lớn của đầu tư công trung hạn

Thiếu hụt và biến động giá vật liệu xây dựng đang trở thành rào cản lớn với đầu tư công giai đoạn 2026 - 2030. Nhiều ĐBQH cho rằng cần chuyển từ cách xử lý tình huống sang chiến lược dài hạn, gắn quy hoạch tài nguyên với kế hoạch đầu tư.

Áp lực sẽ căng thẳng hơn”

Thảo luận tại hội trường về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, nhiều ĐBQH chỉ ra thực tế đáng lo ngại: nguyên vật liệu xây dựng vốn là yếu tố kỹ thuật lại đang trở thành điểm nghẽn mang tính hệ thống.

ĐBQH Tô Ái Vang (Cần Thơ) nhận định, tình trạng thiếu hụt cát, đá và biến động giá đang là một trong những rào cản lớn nhất với các dự án đầu tư công, đặc biệt tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long - nơi có nền đất yếu, nhu cầu vật liệu san lấp rất lớn. Ở tầm vĩ mô, ĐBQH Trần Hoàng Ngân (TP. Hồ Chí Minh) cảnh báo, với quy mô vốn đầu tư công trung hạn tăng mạnh lên 8,2 triệu tỷ đồng, áp lực lên thị trường vật liệu sẽ còn căng thẳng hơn nhiều so với giai đoạn trước. Trong bối cảnh kinh tế thế giới khó đoán định, giá nguyên vật liệu biến động, nguy cơ phải điều chỉnh tổng mức đầu tư là rất lớn.

Thực tế cho thấy, ngay cả khi tổng vốn đầu tư công mới ở mức khoảng 3 triệu tỷ đồng, nhiều dự án đã rơi vào tình trạng “khát” vật liệu. Điều này đặt ra câu hỏi lớn về khả năng đáp ứng nguồn cung khi quy mô đầu tư tăng gấp nhiều lần trong thời gian tới.

ĐBQH Nguyễn Duy Minh (Đà Nẵng) phát biểu tại hội trường. Ảnh: Quang Khánh

ĐBQH Nguyễn Duy Minh (Đà Nẵng) phát biểu tại hội trường. Ảnh: Quang Khánh

Đáng chú ý, ĐBQH Nguyễn Duy Minh (Đà Nẵng) chỉ ra nghịch lý: dù tài nguyên khoáng sản thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý, nhưng khi triển khai các dự án đầu tư công, nguyên vật liệu vẫn phải mua theo cơ chế thị trường. Thực tế này đang tạo ra “vòng lặp chi phí” bất lợi cho ngân sách: Nhà nước phải dùng tiền ngân sách để mua lại chính nguồn tài nguyên của mình với giá cao. Nghịch lý này không chỉ làm đội tổng mức đầu tư, mà còn khiến nhiều dự án rơi vào tình trạng thiếu vật liệu, chậm tiến độ giải ngân, qua đó ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư (ICOR).

Cũng theo đại biểu Nguyễn Duy Minh, dù đã có quy hoạch tài nguyên khoáng sản, bao gồm các mỏ vật liệu xây dựng, nhưng cách tiếp cận hiện nay vẫn mang tính tình thế, chưa hình thành được một chiến lược chủ động phục vụ đầu tư công. Thực tế, không ít dự án đến khi triển khai mới bắt đầu tìm nguồn vật liệu, làm thủ tục cấp phép khai thác, thậm chí điều chỉnh quy hoạch. Việc “thiếu thì tháo gỡ, vướng thì xử lý” cho thấy chưa có sự chuẩn bị từ sớm theo nhu cầu của từng dự án, từng vùng. Điều này cũng phản ánh quy hoạch hiện nay mới dừng ở quản lý tài nguyên, chưa gắn kết chặt chẽ với quy hoạch và kế hoạch đầu tư công.

Từ xử lý tình huống đến chiến lược dài hạn

Từ thực trạng trên, các ĐBQH cho rằng cần cách tiếp cận mang tính hệ thống và dài hạn hơn, thay vì chỉ xử lý từng vướng mắc cụ thể.

Đại biểu Nguyễn Trúc Sơn (Vĩnh Long) cho rằng cần nghiên cứu hình thành một cơ chế tương tự “quỹ vật liệu xây dựng” để điều tiết giá cát, đá, tránh tình trạng biến động đột biến gây khó khăn cho các dự án.

Đại biểu Nguyễn Duy Minh (Đà Nẵng) đề xuất Chính phủ nghiên cứu cơ chế điều tiết giá hoặc xây dựng hình thức “dự trữ chiến lược” đối với vật liệu xây dựng, tương tự cách điều hành với xăng dầu, lương thực. Tuy nhiên, không nhất thiết phải hình thành hệ thống kho bãi, mà trọng tâm là quy hoạch các mỏ vật liệu gắn với mặt bằng sạch, đồng thời rút ngắn thủ tục cấp phép khai thác để có thể đưa vào sử dụng ngay khi phát sinh nhu cầu, qua đó góp phần hạ giá thành và tránh tình trạng ách tắc kéo dài do khâu giải phóng mặt bằng.

Bên cạnh đó, đại biểu Nguyễn Duy Minh cho rằng, cần thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực vật liệu xây dựng. Đây không chỉ là giải pháp về môi trường mà còn là hướng đi mang tính chiến lược, giúp giảm phụ thuộc vào tài nguyên khai thác tự nhiên, qua đó giảm chi phí và ổn định thị trường. “Giải quyết nghịch lý về chi phí tài nguyên không chỉ là bài toán về giá cả mà là yêu cầu về hoàn thiện thể chế quản lý tài sản công để bảo đảm địa tô tài nguyên được quay vòng phục vụ phát triển thay vì làm tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước”, đại biểu nhấn mạnh.

Cũng quan tâm đến vật liệu mới, đại biểu Tô Ái Vang (Cần Thơ) đề xuất sớm chuẩn hóa quy trình kỹ thuật để đưa cát biển vào sử dụng đại trà trong san lấp các tuyến cao tốc, nhất là ở những đoạn không ảnh hưởng đến đất canh tác nông nghiệp. Bên cạnh đó, với các khu vực có nền địa chất yếu, điển hình như đồng bằng sông Cửu Long, việc chuyển từ nền đường đắp cát sang xây dựng cầu cạn tuy làm tăng chi phí đầu tư ban đầu, nhưng có thể giảm nhu cầu cát từ 30 - 50%, đồng thời nâng cao độ bền công trình và khả năng thoát lũ.

Đại biểu Tô Ái Vang cũng cho rằng, cần xây dựng hệ thống dữ liệu số về trữ lượng cát, đá trên toàn vùng để điều phối linh hoạt giữa các địa phương, ưu tiên cho các dự án trọng điểm quốc gia. Trong bối cảnh giá cát tại chân công trình có thời điểm tăng hơn 40%, các địa phương cần công bố chỉ số giá vật liệu hằng tháng sát với diễn biến thị trường, làm cơ sở để nhà thầu điều chỉnh hợp đồng. Đồng thời, các dự án đầu tư công cần áp dụng cơ chế hợp đồng có hệ số điều chỉnh và bù giá rõ ràng, minh bạch, dựa trên biến động thực tế của giá vật liệu xây dựng.

Trong bối cảnh đầu tư công được kỳ vọng là động lực tăng trưởng chủ lực những năm tới, việc tháo gỡ nút thắt vật liệu không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà là bài toán thể chế. Khi quy hoạch, điều phối và cơ chế giá chưa theo kịp quy mô đầu tư, hiệu quả của hàng triệu tỷ đồng vốn ngân sách sẽ khó được phát huy trọn vẹn. Ngược lại, nếu giải quyết được “vòng lặp chi phí” và chủ động nguồn cung, đầu tư công không chỉ được giải phóng tiến độ mà còn có thể lan tỏa mạnh mẽ hơn tới toàn bộ nền kinh tế.

Hà Lan

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/vat-lieu-xay-dung-thach-thuc-lon-cua-dau-tu-cong-trung-han-10414653.html