Về hai từ láy 'chăm chỉ' và 'chăm chú'

'Chăm chỉ' và 'chăm chú' được Từ điển từ láy tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học) thu thập và giải nghĩa. Trong bài này chúng tôi sẽ phân tích nghĩa đẳng lập của chăm chỉ và chăm chú. (Phần để trong ngoặc kép sau số mục là nguyên văn của Từ điển từ láy tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học - Hoàng Văn Hành chủ biên; phần xuống dòng là trao đổi của chúng tôi):

1. “Chăm chỉ tt. Chăm (nói khái quát). Chăm chỉ học tập”.

Chăm chỉ là từ ghép đẳng lập [nghĩa lịch đại], trong đó cả hai yếu tố cấu tạo từ đều là gốc Hán. Chăm gốc Hán vốn từ chữ đam 耽 là yêu thích, chăm chăm, chòng chọc (như đam đam 耽耽 = đăm đăm; Hổ thị đam đam 虎視耽耽 = nhìn đăm đăm như hổ); khi Việt hóa (đam chăm) có nghĩa là luôn chú ý, để ý vào việc gì (như chăm lo; chăm làm, siêng năng, chuyên cần); chỉ 砥, là yếu tố gốc Hán chỉ sự dùi mài, rèn luyện, tu dưỡng. Hán ngữ đại từ điển giảng nghĩa 3 của chỉ là: “mài luyện, tu dưỡng” và hướng dẫn tham khảo các từ chỉ tiết 砥節 (sự mài dũa khí tiết), chỉ lệ 砥礪 (sự tôi luyện, mài dũa).

Mối quan hệ Đ CH (đam chăm) ta còn thấy trong nhiều trường hợp như: đàm 潭 chằm (chằm bãi); đàm 壜 chum (chum vại); điểm 點 chấm; điệp 疊 chập/trập (chập chùng/trập trùng),...

Trong từ chăm chỉ, thì chăm có khả năng độc lập trong hành chức (Bởi anh chăm việc canh nông/ Cho nên mới có bồ trong bịch ngoài - Ca dao); còn chỉ là yếu tố gốc Hán phụ thuộc, không có khả năng đứng độc lập.

2. “Chăm chú tt. Tập trung chú ý hay quan tâm đến đối tượng một cách say mê. Chăm chú nghe giảng. Nhìn chăm chú.”.

Chăm chú là từ ghép đẳng lập [nghĩa đồng đại]: chăm gốc Hán vốn bắt nguồn từ chữ đam 耽 là chòng chọc (như chúng tôi đã phân tích và chứng minh ở mục “chăm chỉ”); chú 注 nghĩa là tập trung, chuyên tâm vào công việc gì (như chú tâm 注心; chú ý 注意; chuyên chú 專注; Chú mắt vào cái điện thoại):

Tham khảo: Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến đức giảng “chú” là “Rót. Nghĩa bóng: để ý chăm-chắm vào (không dùng một mình)”. Tuy nhiên trong thực tế, chú vẫn được dùng một mình (độc lập trong hành chức), ví dụ: Suốt ngày chỉ chú mắt chú mũi vào cái điện thoại. Từ điển Thanh Nghị đưa ra ví dụ rất rõ ràng: “chú • đt. Rót (itd); ngb. Để ý, chăm-chỉ vào <> Hắn chỉ chú vào có một việc đó thôi, ngoài ra không màng đến”.

Như vậy, cả hai từ chăm chỉ và chăm chú đều được cấu tạo bởi các yếu tố gốc Hán, trong đó chăm chỉ là từ ghép đẳng lập (nghĩa lịch đại), còn chăm chú là từ ghép đẳng lập nghĩa đồng đại. Vì cả hai yếu tố cấu tạo từ là “chăm” và “chú” đều có khả năng độc lập trong hành chức nên chăm chú là từ ghép chứ không phải từ láy.

Mẫn Nông (CTV)

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/ve-hai-tu-lay-nbsp-cham-chi-va-cham-chu-280679.htm