Vệ sinh môi trường đô thị bền vững: Quản trị hiện đại và giám sát tự động
Tối 24-4, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội thực hiện Chương trình thời sự đặc biệt với chủ đề 'Vệ sinh môi trường đô thị bền vững: Quản trị hiện đại và giám sát tự động' nhằm làm rõ thực trạng, đánh giá những chuyển biến trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Thủ đô; đồng thời phân tích các giải pháp về cơ chế, công nghệ và tổ chức thực hiện mà TP Hà Nội đang triển khai, hướng tới xây dựng một hệ thống quản trị môi trường đô thị hiện đại, minh bạch và bền vững.
Tại điểm cầu trực tiếp Trường quay S1 có sự tham gia của hai khách mời: PGS.TS Vũ Thanh Ca, Giảng viên cao cấp Trường Đại học Tài nguyên & Môi trường Hà Nội; ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn, Sở Nông nghiệp & Môi trường Hà Nội.

Các khách mời tham dự Chương trình. Ảnh: Quang Thái
Ngoài ra, chương trình còn kết nối với hai điểm cầu tại phường Hoàn Kiếm - một trong những khu vực đầu tiên triển khai mô hình thu gom rác trực tiếp bằng xe cơ giới; và nhà máy điện rác Seraphin tại khu xử lý chất thải rắn Xuân Sơn (phường Tùng Thiện, TP Hà Nội).
Những năm gần đây, cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh, Hà Nội đang phải đối mặt với áp lực rất lớn từ rác thải sinh hoạt. Mỗi ngày, khoảng 7.600 tấn rác phát sinh. Điều này đặt ra bài toán không chỉ về môi trường, mà còn về năng lực quản trị đô thị hiện đại. Từ thu gom, vận chuyển đến xử lý, nếu không có giải pháp đồng bộ và công nghệ phù hợp, rác thải sẽ trở thành “điểm nghẽn” cản trở phát triển bền vững.

Vận hành nhà máy điện rác Sóc Sơn. Ảnh: Quang Thái
Năm 2025 đã ghi nhận những bước chuyển mình rõ nét của Thủ đô. Từ thực tiễn áp lực rác thải ngày càng gia tăng, Hà Nội không chỉ dừng lại ở các giải pháp tình thế, mà đang từng bước tái cấu trúc xử lý toàn bộ hệ thống quản lý chất thải theo hướng đồng bộ, hiện đại và bền vững.
Thành phố đang triển khai một chuỗi giải pháp liên hoàn: Từ cơ giới hóa hoạt động thu gom tại các quận nội đô, đổi mới phương tiện vận chuyển theo hướng giảm phát thải, cho đến đầu tư các nhà máy xử lý rác công nghệ cao, đặc biệt là các nhà máy điện rác quy mô lớn. Đây được xem là bước chuyển mang tính căn bản, giúp thay đổi cách tiếp cận từ “xử lý chất thải” sang “quản trị tài nguyên”.
Chôn lấp rác: Giải pháp rẻ nhưng không thể là lâu dài

PGS. TS Vũ Thanh Ca trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Quang Thái
Rác thải sinh hoạt ở Thủ đô Hà Nội lâu nay đang xử lý theo phương pháp chôn lấp. Từ góc độ môi trường, PGS.TS Vũ Thanh Ca, Giảng viên cao cấp Trường Đại học Tài nguyên & Môi trường Hà Nội đánh giá phương pháp chôn lấp có ưu điểm lớn nhất là chi phí thấp, nhưng tồn tại rất nhiều hạn chế.
Thứ nhất, phương pháp này tốn diện tích lớn. Thực tế như bãi rác Nam Sơn đã nhiều lần quá tải, trong khi Hà Nội ngày càng khó tìm thêm quỹ đất để xử lý rác.
Thứ hai, chôn lấp gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường. Như chúng ta thấy, tình trạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước tại các khu vực xung quanh bãi rác ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sức khỏe người dân. Vì vậy, về lâu dài, đây không thể là giải pháp bền vững.
Phân loại rác tại nguồn: Bắt buộc nhưng chưa hiệu quả vì thiếu hạ tầng, lỏng thực thi
Ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn, Sở Nông nghiệp & Môi trường Hà Nội thông tin, phân loại rác tại nguồn là yêu cầu bắt buộc theo Luật Bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, thời gian qua, Hà Nội cũng như nhiều địa phương trong cả nước đã triển khai nhưng kết quả chưa đạt như kỳ vọng, chưa tối ưu.

Ông Nguyễn Văn Quý trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Quang Thái
Qua rà soát, có một số nguyên nhân chính. Thứ nhất, hạ tầng thu gom và xử lý rác thải chưa đầy đủ, chưa đồng bộ. Phân loại rác tại nguồn đòi hỏi một chuỗi hoàn chỉnh từ thu gom, trung chuyển đến xử lý. Trong khi đó, các cơ sở xử lý, đặc biệt với rác hữu cơ, rác nhà bếp, hiện vẫn còn thiếu.
Thứ hai, thói quen của người dân chưa thực sự phù hợp với yêu cầu phân loại rác tại nguồn. Đây là yếu tố then chốt, bên cạnh vai trò của cơ quan nhà nước và các đơn vị duy trì vệ sinh môi trường.
Thứ ba, công tác kiểm tra, xử phạt dù đã có quy định, như Nghị định số 45/2022/NĐ-CP của Chính phủ, Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hay Nghị quyết 08/2025/NQ-HĐND, về việc quy định mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội (thực hiện khoản 1, Điều 33 của Luật Thủ đô), với mức xử phạt tăng gấp đôi, nhưng vi phạm vẫn còn. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền cần được đẩy mạnh hơn, để mỗi người dân, mỗi hộ gia đình nhận thức rõ phân loại rác tại nguồn là việc cần thiết và bắt buộc thực hiện.
Từ thực tế đó, việc xử lý rác tại Hà Nội hiện vẫn chủ yếu dựa vào các nhà máy xử lý rác thải quy mô lớn, dẫn đến tình trạng quá tải, như đã phản ánh trong phóng sự. Để khắc phục, thành phố Hà Nội đã và đang triển khai nhiều giải pháp. Trước hết, xây dựng hành lang pháp lý cho công tác phân loại rác tại nguồn, bám sát luật, nghị định và hướng dẫn kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Gần đây, thành phố đã ban hành Quyết định 87/2025/QĐ-UBND, về việc quy định quản lý chất thải rắn sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội, trong đó có nội dung hướng dẫn phân loại rác. Cùng với đó, nhanh chóng đồng bộ hạ tầng từ thu gom đến xử lý. Đồng thời, siết chặt kỷ cương, tăng cường kiểm tra, xử phạt, tránh tình trạng nể nang, bỏ qua vi phạm.
Ngoài ra, cần gắn trách nhiệm cụ thể với từng cấp, đặc biệt cấp xã, phường; cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu; yêu cầu xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác quản lý, xử lý rác thải, trong đó có rác thải nhựa. Như vậy, từ người dân đến chính quyền cơ sở đều phải tham gia vào quá trình phân loại và xử lý rác thải, thì mới có thể đạt hiệu quả thực chất.
Phân loại rác cần đồng bộ
Ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, cho biết, phân loại rác tại nguồn là yêu cầu bắt buộc theo quy định của pháp luật. Thời gian qua, Hà Nội cũng như nhiều địa bàn trên cả nước đã triển khai nội dung này, tuy nhiên kết quả đạt được vẫn chưa như kỳ vọng.
Theo ông Nguyễn Văn Quý, nguyên nhân trước hết đến từ hạ tầng kỹ thuật phục vụ phân loại và xử lý rác tại nguồn còn thiếu và chưa đồng bộ. Đặc biệt, các trạm trung chuyển và cơ sở xử lý chuyên biệt cho từng loại rác, nhất là rác hữu cơ, rác thải nhà bếp, hiện vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Bên cạnh đó, thói quen của người dân trong việc phân loại rác tại nguồn chưa được hình thành rõ nét. Đây là yếu tố then chốt, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ giữa người dân với các cơ quan quản lý Nhà nước và đơn vị duy trì vệ sinh môi trường.
Ngoài ra, công tác kiểm tra, xử lý vi phạm dù đã có cơ sở pháp lý, như Nghị định số 45/2022/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và quy định của thành phố Hà Nội về tăng mức xử phạt, song trong thực tế, việc chấp hành vẫn chưa nghiêm, các vi phạm còn diễn ra.
“Thời gian tới, công tác tuyên truyền cần tiếp tục được đẩy mạnh, để mỗi người dân, mỗi hộ gia đình nhận thức rõ phân loại rác tại nguồn là việc làm thiết thực, bắt buộc phải thực hiện”, ông Nguyễn Văn Quý nhấn mạnh.
Cần tập trung vào khâu chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật

PGS.TS Vũ Thanh Ca tại Chương trình. Ảnh: Quang Thái
Bổ sung ý kiến của ông Nguyễn Văn Quý, PGS.TS Vũ Thanh Ca đề xuất, để việc phân loại rác thải tại nguồn đem lại hiệu quả tốt hơn, Hà Nội cần tập trung vào khâu chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật và tài liệu hướng dẫn.
Cụ thể, việc đơn giản nhất đó là cung cấp tờ rơi mô tả phương thức phân loại một cách ngắn gọn và dễ hiểu, có lịch thu gom rác cụ thể đến từng hộ gia đình, đồng thời phải bảo đảm có đội xe vận chuyển riêng biệt cho từng loại rác để tránh tình trạng "đổ chung" sau khi đã phân loại. "Với những công việc đó, thành phố Hà Nội hoàn toàn có thể thực hiện được nếu như có sự quyết tâm của lãnh đạo thành phố", PGS.TS Vũ Thanh Ca nhấn mạnh.
Đổi mới toàn diện công tác vệ sinh môi trường
Trả lời về những thay đổi trong hiệu quả thu gom và vận chuyển rác khi Hà Nội đẩy mạnh cơ giới hóa, ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết, từ năm 2025, thành phố đã ban hành Kế hoạch số 366 nhằm đổi mới toàn diện công tác vệ sinh môi trường. Theo đó, Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội (Urenco), đơn vị phụ trách thu gom rác tại 4 quận nội đô, gồm: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và Đống Đa, đã triển khai thí điểm nhiều giải pháp mới.

Thành phố Hà Nội đưa vào sử dụng loạt xe vệ sinh đô thị mới đáp ứng nhu cầu vệ sinh môi trường của thành phố. Ảnh: Quang Thái
Các công nghệ thu gom hiện đại được đưa vào sử dụng, bao gồm: Xe chạy điện, hệ thống phun sương dập bụi, cùng các thiết bị cơ giới hóa nhằm thay đổi phương thức và quy trình thu gom truyền thống. Từ kết quả thí điểm, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu UBND thành phố Hà Nội ban hành Quy trình định mức số 50 năm 2025, trong đó định hướng rõ việc áp dụng phương tiện hiện đại và quy trình làm sạch mới, nâng cao hiệu quả vệ sinh môi trường đô thị.
Bên cạnh đó, khi triển khai các gói thầu trên địa bàn 126 phường, xã, Sở Nông nghiệp và Môi trường cũng đã có văn bản hướng dẫn cụ thể, yêu cầu đưa các tiêu chí về sử dụng thiết bị hiện đại vào hồ sơ, phù hợp với đặc thù từng khu vực.
Theo ông Nguyễn Văn Quý, việc tăng cường cơ giới hóa đã mang lại những thay đổi rõ nét. Trước hết, hiệu quả thu gom được nâng cao, năng suất lao động tăng lên nhiều lần nhờ sử dụng các hệ thống cơ giới thay thế phương thức thủ công.
Thứ hai, chất lượng làm sạch được cải thiện đáng kể, không chỉ thu gom rác mà còn xử lý bụi mịn trên mặt đường thông qua quy trình làm sạch nhiều bước, kết hợp tưới nước rửa đường. Cuối cùng, thời gian thực hiện được rút ngắn, việc tổ chức theo ca, tuyến trở nên khoa học và đồng bộ hơn.
Bụi mịn PM2.5 - “Thủ phạm chính” của ô nhiễm không khí tại Hà Nội

PGS TS Vũ Thanh Ca cho rằng ô nhiễm không khí ở Hà Nội hiện nay chủ yếu là do bụi mịn PM2.5. Ảnh: Quang Thái
Từ góc độ chuyên gia môi trường, PGS.TS Vũ Thanh Ca cho rằng ô nhiễm không khí ở Hà Nội hiện nay chủ yếu là do bụi mịn PM2.5. Loại bụi này có hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, bụi phát sinh từ mặt đường. Hạ tầng giao thông vẫn còn nhiều bụi đất, khi phương tiện lưu thông sẽ cuốn bụi lên không khí. Nếu tăng cường rửa đường, hút bụi bằng các phương tiện cơ giới, có thể giảm đáng kể lượng bụi mịn này.
Thứ hai, một lượng lớn bụi mịn xuất phát từ khí thải của các phương tiện sử dụng động cơ đốt trong. Những phương tiện không đạt tiêu chuẩn khí thải sẽ phát ra nhiều khói bụi, góp phần làm gia tăng ô nhiễm.
Đặc biệt, trong điều kiện thời tiết bất lợi như lặng gió, nhiệt độ thấp vào mùa đông, bụi mịn không khuếch tán lên cao mà tích tụ gần mặt đất, khiến mức độ ô nhiễm tăng lên dù nguồn phát thải không quá lớn.
Vì vậy, việc kiểm soát khí thải, thay đổi phương tiện theo hướng sạch hơn, đặc biệt là sử dụng xe điện, sẽ góp phần quan trọng trong giảm ô nhiễm không khí và bụi mịn.
Hoàn thiện đồng bộ cả về hạ tầng, công nghệ và cơ chế quản lý
Để việc cơ giới hóa thu gom rác phát huy hiệu quả bền vững, ông Nguyễn Văn Quý cho rằng, Hà Nội cần tiếp tục hoàn thiện đồng bộ cả về hạ tầng, công nghệ và cơ chế quản lý.
Trước hết, về hạ tầng, ông nhấn mạnh vai trò then chốt của hệ thống phương tiện và đặc biệt là các trạm trung chuyển rác. Đây là yếu tố giúp tăng tốc độ quay vòng của xe thu gom, bảo đảm rác được vận chuyển kịp thời từ các khu dân cư đông đúc. Đồng thời, các trạm trung chuyển cũng góp phần giảm áp lực cho công tác phân loại và thu gom, trở thành mắt xích quan trọng trong toàn bộ quy trình.

Công nhân dọn vệ sinh môi trường, thu gom rác thải trên địa bàn thành phố. Ảnh: Quang Thái
Về công nghệ, cần đẩy mạnh ứng dụng các giải pháp hiện đại trong quản lý và vận hành, như hệ thống định vị GPS, camera hành trình và các phần mềm tối ưu hóa lộ trình thu gom. Bên cạnh đó, việc lựa chọn phương tiện cơ giới cũng cần phù hợp với điều kiện hạ tầng từng khu vực, đặc biệt là tại các tuyến phố nhỏ, ngõ hẹp.
Xu hướng sử dụng xe điện trong thu gom rác cũng được đánh giá là hướng đi phù hợp, góp phần giảm phát thải và bảo vệ môi trường.
Một yếu tố quan trọng khác là công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân.
Theo ông Nguyễn Văn Quý, cần tạo sự đồng thuận trong cộng đồng, khuyến khích người dân thực hiện đúng quy định về thời gian và cách thức bỏ rác, từ đó hỗ trợ hiệu quả cho các đơn vị thu gom.
Với việc hoàn thiện đồng bộ các yếu tố nêu trên, mô hình thu gom rác cơ giới hóa, vốn đã cho thấy hiệu quả tại khu vực Hoàn Kiếm được kỳ vọng sẽ tiếp tục được nhân rộng toàn thành phố. Qua đó, góp phần xây dựng hệ thống quản lý chất thải hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Mô hình thu gom rác trực tiếp bằng xe cơ giới

Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Phó Giám đốc Chi nhánh Hoàn Kiếm, Công Ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội chia sẻ tại điểm cầu. Ảnh: Đỗ Công
Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Phó Giám đốc Chi nhánh Hoàn Kiếm, Công Ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội, cho biết: Mô hình thu gom rác trực tiếp bằng xe cơ giới được triển khai thí điểm từ cuối năm 2024 với sự ủng hộ mạnh mẽ từ các cấp chính quyền cơ sở và người dân.
Nhờ sự đồng thuận cao, mô hình này đã nhanh chóng chuyển từ giai đoạn thí điểm sang triển khai rộng khắp trên toàn bộ các tuyến phố thuộc địa bàn phường Hoàn Kiếm. Việc thay đổi từ phương thức thu gom truyền thống sang cơ giới hóa được đánh giá là rất thành công, tạo tiền đề cho việc quản lý rác thải hiệu quả hơn trong tương lai.
Theo bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, việc áp dụng xe cơ giới thu gom trực tiếp đã mang lại hiệu quả kép: Vừa làm đẹp diện mạo đô thị, vừa giảm bớt sự vất vả cho công nhân môi trường. Thay vì phải đẩy xe gom rác thủ công qua từng con phố, hiện nay, người dân sẽ trực tiếp bỏ rác lên xe ô tô theo giờ quy định.
Điều này không chỉ giúp giảm thiểu sự nặng nhọc cho người lao động mà còn loại bỏ hoàn toàn các điểm tập kết rác gây mùi hôi và mất mỹ quan trên vỉa hè, giúp đường phố luôn sạch sẽ, thông thoáng.
Sau khi triển khai trên địa bàn phường Hoàn Kiếm phương thức này đã cho thấy hiệu quả rõ rệt: Đường phố sạch sẽ hơn, không còn các điểm tập kết rác tồn đọng, hạn chế mùi hôi và tình trạng ùn ứ rác gây cản trở giao thông. Người dân cũng đã dần hình thành thói quen bỏ rác đúng giờ, đúng nơi quy định.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Tổ trưởng tổ dân phố Hàng Gai 5, phường Hoàn Kiếm, chia sẻ: Sau khi triển khai mô hình thu gom rác trực tiếp, cuộc sống sinh hoạt của gia đình và khu phố có nhiều sự thay đổi, ý thức của người dân đã có nhiều sự tiến bộ.
Mô hình thu gom rác kiểu mới đã hình thành thói quen văn minh cho cư dân phố cổ. Người dân hiện nay chủ động nắm bắt giờ và tín hiệu nhạc hiệu của xe thu gom để mang rác ra đúng lúc hoặc nếu có việc bận, người dân có thể chủ động mang rác ra trước giờ xe đến khoảng 15 phút, sau đó xe thu gom sẽ đến gom trực tiếp.
Sự cải tiến này đã giúp duy trì đường phố sạch đẹp cả ngày và đêm. Đặc biệt, du khách khi đến khu vực phường Hoàn Kiếm được thụ hưởng không gian xanh, sạch, đẹp hơn, góp phần nâng cao hình ảnh du lịch của Thủ đô.
Giải pháp đúng, cần cơ chế tài chính bền vững
Đánh giá cao về mô hình thu gom rác trực tiếp bằng xe cơ giới tại phố cổ trong việc giảm ô nhiễm đô thị, PGS.TS Vũ Thanh Ca cho biết đây là hướng đi đúng và phù hợp với thực tiễn của Hà Nội.
PGS.TS Vũ Thanh Ca phân tích, đặc thù của Hà Nội là có nhiều khu dân cư với ngõ nhỏ, đường hẹp, đặc biệt là các khu vực làng xóm xen kẽ trong đô thị, việc sử dụng các phương tiện cơ giới phù hợp sẽ giúp công nhân môi trường tiếp cận được hầu hết các vị trí, thay vì chỉ tập trung làm sạch những tuyến phố lớn như trước đây.
Nếu triển khai đồng bộ, rác có thể được thu gom ngay trước từng hộ dân, công nhân đi thu gom trực tiếp theo tuyến. Điều này sẽ giúp cải thiện rõ rệt môi trường đô thị, không chỉ ở khu vực trung tâm mà cả trong các khu dân cư, làng xóm.
Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là khi mở rộng mô hình này, khối lượng công việc của công nhân môi trường sẽ tăng lên, đồng thời chi phí đầu tư hạ tầng và phương tiện cũng không nhỏ.
“Theo nguyên tắc của Luật Bảo vệ môi trường, người gây ô nhiễm phải trả chi phí xử lý. Vì vậy, cần tính toán cơ chế tài chính theo hướng “tính đúng, tính đủ”, bảo đảm có nguồn lực duy trì hệ thống. Một mô hình chỉ có thể vận hành bền vững khi tự bảo đảm được chi phí hoạt động. Bên cạnh đầu tư hạ tầng, thành phố cũng cần nghiên cứu, điều chỉnh cơ chế tài chính phù hợp, đồng thời từng bước nhân rộng mô hình trên toàn địa bàn, kể cả các khu vực xa trung tâm. Khi đó, không chỉ các khu đô thị mà cả các khu dân cư, làng xóm cũng sẽ được cải thiện môi trường sống, góp phần xây dựng Thủ đô ngày càng xanh, sạch, đẹp và văn minh”, PGS.TS Vũ Thanh Ca nêu.
Nhà máy điện rác Seraphin áp dụng công nghệ hiện đại toàn bộ quy trình

Ông Nguyễn Trường Đức, Phó Tổng Giám đốc Nhà máy điện rác Seraphin chia sẻ tại điểm cầu. Ảnh: Phạm Công
Tại điểm cầu Nhà máy điện rác Seraphin, ông Nguyễn Trường Đức, Phó Tổng giám đốc Nhà máy điện rác Seraphin, Tập đoàn AMACCAO, cho biết: "Từ khâu tiếp nhận, xe rác di chuyển lên sảnh, đổ vào bể chứa trong môi trường kín, áp suất âm, không phát tán mùi ra ngoài".
Quá trình đảo trộn và đưa rác vào lò được thực hiện bằng gầu cẩu, vận hành từ cabin, bảo đảm người vận hành không tiếp xúc trực tiếp với rác.
Trong lò đốt, các công nghệ xử lý khí thải tiên tiến được áp dụng. Cụ thể, công nghệ SNCR xử lý NOx; tháp phản ứng bán khô xử lý các khí axít; lọc bụi túi vải; kết hợp phun than hoạt tính để xử lý kim loại nặng.
Trong quá trình vận hành, các thông số được giám sát chặt chẽ, đặc biệt nhiệt độ luôn duy trì hơn 950°C, cùng chế độ cấp gió phù hợp để bảo đảm quá trình cháy hiệu quả. Sau đốt, tro xỉ được tận dụng làm vật liệu như gạch nung hoặc vật liệu san lấp.
Nhiệt năng sinh ra được sử dụng cho sản xuất điện; phần dư phát lên lưới điện. Nước thải phát sinh được xử lý và tái tuần hoàn cho hệ thống làm mát, không xả ra môi trường.
Hiện nay, nhà máy điện rác Seraphin là đơn vị duy nhất tại Việt Nam áp dụng tiêu chuẩn khí thải theo mức cao nhất của châu Âu.
Nhà máy điện rác Seraphin bảo đảm xử lý lượng rác thải phát sinh hàng ngày
Chia sẻ về hoạt động của nhà máy điện rác, ông Nguyễn Trường Đức, Phó Tổng giám đốc Nhà máy điện rác Seraphin, Tập đoàn AMACCAO cho biết, đến thời điểm hiện tại, nhà máy đã xử lý hơn 600.000 tấn rác cho thành phố Hà Nội. Trong thời gian tới, nhà máy sẽ tiếp tục duy trì vận hành ổn định, bảo đảm xử lý lượng rác thải phát sinh hàng ngày.
Đồng thời, Seraphin cũng định hướng trở thành cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho những nhà máy điện rác sẽ được phát triển tại các địa phương trong cả nước.
Nhà máy điện rác Seraphin: Mỗi ca trực xử lý khoảng 650 tấn rác khô

Anh Trần Văn Doanh, Trưởng ca vận hành Nhà máy điện rác Seraphin. Ảnh: Phạm Công
Anh Trần Văn Doanh, Trưởng ca vận hành Nhà máy điện rác Seraphin thông tin: "Hiện nay, nhà máy tổ chức vận hành theo ba ca, bốn kíp, bảo đảm hoạt động liên tục 24/24 giờ. Mỗi ca trực xử lý khoảng 650 tấn rác khô, đồng thời phát điện với công suất khoảng 37 MW mỗi giờ. Để duy trì hoạt động này, trong mỗi ca đều có đầy đủ các bộ phận chuyên môn, như: Lò đốt, tuabin, điện, hóa, điều khiển và sửa chữa, nhằm bảo đảm nhà máy vận hành an toàn, liên tục và hiệu quả".
Thay đổi hoàn toàn cục diện xử lý chất thải của thành phố Hà Nội
Ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội chia sẻ, việc đưa vào vận hành hai nhà máy xử lý rác hiện đại đã thay đổi hoàn toàn cục diện xử lý chất thải của thành phố Hà Nội. Dựa trên tình hình vận hành thực tế, các chỉ số về xử lý rác thải đã có những chuyển biến tích cực: Tổng lượng rác phát sinh khoảng 8.000 tấn/ngày. Trong đó, khối lượng xử lý bằng điện rác đạt khoảng 6.250 tấn/ngày. Đáp ứng gần 80% tổng lượng rác phát sinh của toàn thành phố.
Những hiệu quả rõ nhất trước hết là khối lượng rác phải chôn lấp giảm, từ đó giảm bớt ô nhiễm cho thành phố. Thứ hai là nguồn lợi khi chuyển rác thành tài nguyên thông qua phát điện, góp phần vào hệ thống năng lượng, bảo đảm năng lượng của thành phố. Thứ ba là giảm được áp lực tồn đọng rác tại địa bàn.
Đốt rác phát điện: Giải pháp phù hợp nhất với điều kiện hiện nay nhưng phải đi cùng phân loại

PGS.TS Vũ Thanh Ca chia sẻ tại Chương trình. Ảnh: Quang Thái
Đánh giá về việc Hà Nội chuyển từ chôn lấp sang đốt rác phát điện, PGS.TS Vũ Thanh Ca cho rằng đây là giải pháp phù hợp nhất với điều kiện hiện nay của Việt Nam, khi đáp ứng đồng thời nhiều yêu cầu về kinh tế, môi trường và quỹ đất.
Theo PGS.TS Vũ Thanh Ca, ưu điểm lớn của công nghệ đốt rác phát điện là chi phí ở mức chấp nhận được, đồng thời giúp giảm đáng kể nhu cầu sử dụng đất cho các bãi chôn lấp, một vấn đề ngày càng cấp bách tại các đô thị lớn. Bên cạnh đó, so với nhiều lò đốt rác quy mô nhỏ, công nghệ hiện đại tại các nhà máy phát điện từ rác có khả năng kiểm soát tốt hơn các chất ô nhiễm, như: Bụi mịn, khí SOx, NOx, qua đó hạn chế phát thải độc hại ra môi trường.
Tuy nhiên, PGS.TS Vũ Thanh Ca cũng lưu ý để công nghệ này thực sự phát huy hiệu quả và bảo đảm tính bền vững, yếu tố then chốt là phải thực hiện phân loại rác tại nguồn. Thực tế hiện nay, rác thải sinh hoạt tại Hà Nội vẫn chưa được phân loại, dẫn đến nhiều hệ lụy.
Cụ thể, việc chưa phân loại khiến trong rác tồn tại nhiều thành phần không cháy, làm gia tăng lượng tro xỉ sau đốt. Ngoài ra, các loại rác nguy hại, như: Pin, ắc quy có thể sinh ra kim loại nặng, những chất rất khó xử lý triệt để. Dù công nghệ hiện đại có thể xử lý một phần, nhưng vẫn có nguy cơ phát tán ra môi trường không khí, gây ảnh hưởng lâu dài đến hệ sinh thái và sức khỏe con người do đặc tính tích lũy sinh học.
Đối với phần tro xỉ sau đốt, PGS.TS Vũ Thanh Ca khuyến cáo không sử dụng để san lấp mặt bằng trong điều kiện rác chưa được phân loại, bởi nguy cơ kim loại nặng ngấm vào đất và lan rộng ra môi trường xung quanh. Thay vào đó, cần tiếp tục quản lý, lưu giữ tại các khu chôn lấp được kiểm soát.
PGS.TS Vũ Thanh Ca nhấn mạnh, trong thời gian tới, Hà Nội cần đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống phân loại rác tại nguồn nhằm loại bỏ các yếu tố độc hại và tối ưu hiệu quả đốt rác phát điện. Khi đó, mô hình này mới có thể trở thành giải pháp bền vững lâu dài cho bài toán chất thải đô thị.
Theo PGS.TS Vũ Thanh Ca, công nghệ đốt rác phát điện hoàn toàn có thể được sử dụng trong một giai đoạn dài, trước khi các công nghệ xử lý chất thải tiên tiến, sạch hơn được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trong tương lai. Đốt rác phát điện cũng là giải pháp tối ưu đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Ông phân tích, thứ nhất, công nghệ đốt rác phát điện có chi phí ở mức chấp nhận được. Thứ hai, không đòi hỏi diện tích lớn như chôn lấp. Đồng thời, nếu vận hành đúng tiêu chuẩn, có thể giảm đáng kể ô nhiễm môi trường.
"Có thể nói, đây là giải pháp có thể áp dụng trong thời gian dài, trước khi chúng ta tiến tới các công nghệ xử lý tiên tiến hơn trong tương lai", PGS. TS Vũ Thanh Ca nhấn mạnh.
Quan trắc tự động: Bảo đảm vận hành an toàn, minh bạch

Ảnh minh họa
Theo ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, các nhà máy điện rác, cũng như những cơ sở xử lý chất thải nói chung, đều phải tuân thủ nghiêm các quy định về giám sát môi trường. Trong đó, quan trắc tự động là yêu cầu bắt buộc.
Đối với các nhà máy điện rác tại khu xử lý Nam Sơn và Xuân Sơn, hệ thống quan trắc môi trường tự động đã được lắp đặt và vận hành theo đúng quy định trong giấy phép môi trường, cũng như các quy định pháp luật, trong đó có Thông tư số 08 năm 2022 và Thông tư số 10 năm 2021 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (trước đây) về quy chuẩn kỹ thuật quan trắc và quản lý thông tin môi trường.
Theo đó, toàn bộ dữ liệu quan trắc tự động đối với nước thải, khí thải được truyền liên tục về Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội. Các số liệu này được tiếp nhận, lưu trữ và theo dõi thường xuyên, đồng thời có cơ chế cảnh báo khi có dấu hiệu vượt ngưỡng, nhằm kịp thời xử lý, không để xảy ra sự cố môi trường.
Bên cạnh đó, tại các vị trí xả thải đều được lắp đặt hệ thống camera giám sát, hình ảnh được truyền và lưu trữ tại cơ quan quản lý nhà nước. Các thiết bị đo, kiểm đếm cũng được hiệu chuẩn và kiểm định định kỳ theo quy định.
Dữ liệu quan trắc tự động không chỉ phục vụ công tác quản lý mà còn được công khai thông qua các bảng điện tử đặt tại cổng nhà máy, giúp người dân có thể theo dõi, giám sát một cách minh bạch.
Việc tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật về quan trắc và giám sát môi trường sẽ góp phần bảo đảm các nhà máy vận hành an toàn, đúng quy định và hạn chế tối đa nguy cơ xảy ra sự cố môi trường.
Vẫn có những điểm cần hoàn thiện
PGS.TS Vũ Thanh Ca thẳng thắn nhìn nhận trong thời gian vừa qua, một số cán bộ ngành Môi trường đã vướng phải vấn đề chỉnh sửa số liệu. Đây là bài học rất đau xót cho ngành.
Để tránh tái diễn, ngoài việc công bố số liệu ở cổng thông tin của các nhà máy, nên lưu trữ, đăng tải số liệu, công khai thông tin trên các website công cộng để người dân có thể truy cập trực tiếp. Khi đã công khai, không ai có thể chỉnh sửa được. Vì vậy, trách nhiệm của các cơ sở đốt rác cũng như cơ sở phát điện sẽ nâng cao hơn. Đồng thời củng cố, tăng niềm tin của người dân lên rất nhiều. Từ đó, người dân sẽ tin tưởng ngành Môi trường và ngành cũng đang góp phần giữ gìn sự bình yên và sức khỏe của người dân.
Tăng cường giám sát đa tầng, chế tài đủ mạnh để kiểm soát phát thải từ các nhà máy
Trả lời về cơ chế giám sát và chế tài nhằm bảo đảm các nhà máy vận hành đúng tiêu chuẩn môi trường, ông Nguyễn Văn Quý cho rằng, trước hết cần tuân thủ nghiêm các quy định pháp luật hiện hành, không chỉ từ phía cơ quan quản lý mà cả những đơn vị vận hành.
Công tác giám sát cần được thiết lập theo hướng đa tầng, bao gồm giám sát nội bộ, giám sát chéo giữa các đơn vị và giám sát từ cơ quan quản lý nhà nước. Đặc biệt, cần tận dụng các công cụ công nghệ số để nâng cao hiệu quả kiểm soát. Việc ứng dụng các giải pháp như dữ liệu số, hệ thống giám sát tự động, thậm chí công nghệ blockchain có thể giúp bảo đảm tính minh bạch, hạn chế can thiệp vào dữ liệu và tăng độ tin cậy trong quản lý.
Bên cạnh đó, việc công khai thông tin về hoạt động và phát thải của các nhà máy cũng được xem là một giải pháp quan trọng. Khi các dữ liệu được minh bạch, xã hội và cộng đồng có thể tham gia giám sát, qua đó tạo thêm áp lực buộc các đơn vị phải tuân thủ quy định.
Về chế tài, ông Nguyễn Văn Quý nhấn mạnh cần áp dụng các biện pháp xử phạt đủ mạnh, có tính lũy tiến và sức răn đe cao. Theo đó, mức xử phạt cần tăng dần theo số lần vi phạm, bảo đảm không để tình trạng tái phạm hoặc “nhờn luật”. Các quy định này hiện đã được đề cập trong hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm môi trường, tuy nhiên cần được thực thi nghiêm túc và nhất quán.
Ngoài ra, vai trò giám sát của cộng đồng được đánh giá là yếu tố không thể thiếu. Việc tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân sẽ giúp hình thành cơ chế giám sát xã hội rộng khắp, không chỉ đối với các nhà máy đốt rác mà với tất cả các cơ sở có phát thải.
Theo ông Nguyễn Văn Quý, khi kết hợp đồng bộ giữa công nghệ, cơ chế quản lý và sự tham gia của cộng đồng, việc kiểm soát hoạt động của các nhà máy sẽ hiệu quả hơn, góp phần hạn chế rủi ro môi trường và hướng tới phát triển bền vững.

Các khách mời và ê kíp thực hiện Chương trình. Ảnh: Quang Thái











