Về từ láy 'xấu xí'

...'xấu xí' là từ ghép đẳng lập được cấu tạo bởi các yếu tố gốc Hán, chứ không phải từ láy.

Mình đẹp cho mẹ mình lo

Đêm nằm lắm kẻ rình mò ước ao

Xấu xí như mẹ con tao

Đêm nằm ngỏ cửa mát sao mát này.

(Ca dao)

Từ điển từ láy tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Văn Hành chủ biên - NXB Khoa học xã hội, 2011) thu thập từ “xấu xí” và giảng là: “Quá xấu về hình thức bên ngoài, đến mức không ai muốn nhìn: mặt mũi xấu xí <> hình dáng xấu xí”.

Thực ra “xấu xí” là từ ghép đẳng lập được cấu tạo bởi các yếu tố gốc Hán.

“Xấu” gốc Hán do chữ “xú” 醜 mà ra. Mối quan hệ biến âm U ÂU (xú xấu), ta thấy trong rất nhiều trường hợp như: cú 句 câu; thu 收 thâu; thủ 首 đầu; tu 鬚 râu; du 油 dầu; tù tầu; tru trâu (phương ngữ Thanh Hóa),...

Còn “xí”, Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên - Trung tâm từ điển học Vietlex) giảng là: “xấu [nói trại với giọng vui đùa, hài hước”, và lấy ví dụ “con bé trông xí bỏ xừ ~ “Ôi, trông cô dâu kìa, xinh quá là xinh, còn chú rể thì xí ơi là xí...” (Lê Minh Khuê).

Tuy nhiên, “xí” không phải là “xấu” nói trại như từ điển của Hoàng Phê giảng, mà là một từ Việt gốc Hán được viết với tự hình là 媸, và âm đọc hiện thời cũng là “xí”, nghĩa là xấu. Hán ngữ đại từ điển mục “xí” 媸 giảng là: “xú lậu, xú ác” (醜陋;醜惡), nghĩa là: xấu xí, xấu xa, xấu ác, và lấy ví dụ: “Tình bất di, diễm sắc xí” (情不怡, 豔色媸), nghĩa là: Tình không đem đến sự vui vẻ, hạnh phúc thì sắc đẹp cũng hóa thành xấu xí.

Ví dụ của Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê - Vietlex): “con bé trông xí bỏ xừ ~ “Ôi, trông cô dâu kìa, xinh quá là xinh, còn chú rể thì xí ơi là xí...”; hay Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên): “bận quần áo xí quá <> xài đồ xí quá”, cho ta thấy “xấu” là một từ, “xí” cũng là một từ.

Như vậy, “xấu xí” là từ ghép đẳng lập được cấu tạo bởi các yếu tố gốc Hán, chứ không phải từ láy.

Mẫn Nông (CTV)

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/ve-tu-lay-xau-xi-285984.htm