Vì sao FTA 'mở cửa' miễn thuế nhưng gạo Việt vẫn chọn nơi… thuế cao?
Việt Nam bán 8-9 triệu tấn gạo mỗi năm nhưng chủ yếu đi vào các thị trường có thuế suất rất cao, chưa khai thác hiệu quả những thị trường được miễn thuế. Một số ý kiến cho rằng nguyên nhân của tình trạng này là do doanh nghiệp đang 'chọn dễ' nhưng thực tế có khác.

FTA mở cửa miễn thuế nhưng gạo Việt vẫn bán thị trường thuế cao. Ảnh: Trung Chánh
Việt Nam đã tham gia khoảng 20 hiệp định thương mại tự do (FTA) trong đó có 16 FTA đã được thực thi trong thời gian khá dài. Vậy, ngành gạo đang tận dụng các hiệp định thương mại ra sao?
Bán nhiều vào thị trường thuế rất cao
Ông Ngô Chung Khanh, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), cho biết với Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), Việt Nam xuất khẩu gạo rất lớn vào hai thị trường trong khối là Philippines và Indonesia. “Các FTA thường đưa thuế về 0% hoặc khoảng 5% nhưng riêng ATIGA, hai thị trường này vẫn áp mức thuế rất cao”, ông nói và dẫn chứng, Philippines là 35% còn Indonesia 25%.
Theo ông Khanh, không chỉ trong ASEAN, Philippines và Indonesia luôn bảo hộ ngành gạo nội địa khi ký FTA với các đối tác bên ngoài. Trong đó, với RCEP (Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực), Philippines không tự do hóa ngành gạo, còn Indonesia vẫn duy trì mức thuế 30%.
Dù áp mức thuế rất cao nhưng Philippines và Indonesia luôn là hai thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam, có thời điểm chiếm khoảng 60% tổng lượng xuất khẩu. Trong đó, năm 2024, xuất khẩu sang Philippines đạt 4,22 triệu tấn, chiếm 46,7% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam; Indonesia đạt 1,26 triệu tấn, chiếm khoảng 13,9%.
Trong khi đó, với các FTA thế hệ mới, thuế nhập khẩu gạo tại nhiều thị trường thấp hơn rất nhiều, thậm chí về 0% nhưng khả năng khai thác của doanh nghiệp gạo vẫn chưa như kỳ vọng.
Theo ông Khanh, trong CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), Canada áp thuế 0% cho gạo Việt Nam; Mexico áp 10% với gạo và 0% với sản phẩm từ gạo (quốc gia không có FTA phải chịu thuế tới 50%).
Với EVFTA (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- Liên minh châu Âu- EU), thị trường này dành cho Việt Nam lượng hạn ngạch miễn thuế hàng năm là 80.000 tấn. “Các thị trường thuế 0% có tổng dung lượng nhập khẩu khoảng 4 tỉ đô la Mỹ mỗi năm nhưng chúng ta chưa tận dụng được. Đây là điều rất đáng tiếc”, ông Khanh cho biết.
EU nhập khẩu khoảng 1 tỉ đô la gạo mỗi năm nhưng Việt chỉ chiếm khoảng 1,5% thị phần; Anh nhập khẩu 670 triệu đô la, gạo Việt chỉ chiếm 1,3%; Mexico nhập 575 triệu đô la, Việt Nam chiếm chỉ 0,2%.

Doanh nghiệp được cho là thích chọn thị trường dễ nhưng có hoàn toàn đúng. Ảnh: Trung Chánh
Chọn “dễ” hay do đâu?
Ông Khanh của Vụ Chính sách thương mại đa biên cho rằng, những thị trường như Philippines và Indonesia là thị trường gần, yêu cầu hợp đồng đơn giản nên nhiều doanh nghiệp chọn bởi dễ làm hơn. Tuy nhiên, dễ thì thường đi kèm lợi nhuận thấp thậm chí có lúc phải bù lỗ cho nên đã từng có trường hợp, như vào năm 2023, có nhiều doanh nghiệp chịu lỗ khi bán gạo cho Philippines.
Ngoài ra, năng lực sản xuất trong nước còn hạn chế, đất đai manh mún, nông dân sản xuất tự phát, chưa đáp ứng tốt yêu cầu công nghệ và tiêu chuẩn cao. Mô hình kinh doanh mang tính ngắn hạn, thiếu đầu tư bài bản cho thương hiệu... cũng là những nguyên nhân chưa khai thác được cơ hội từ các thị trường có ký FTA thế hệ mới.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Việt Anh, Tổng giám đốc Công ty TNHH Lương thực Phương Đông (ORICO), cho rằng vấn đề không đơn thuần là doanh nghiệp thích “chọn dễ”, mà do căn cứ vào hiệu quả kinh doanh và quản trị rủi ro.
Theo ông, ORICO có đơn hàng đi châu Âu và Mỹ nhưng không dám nhận vì đã quá bận với các thị trường chính (Philippines). “Nếu tham gia thị trường ngách, có thể ảnh hưởng đến mặt hàng chủ lực”, ông nói.
Bên cạnh đó, các thị trường như Mỹ, Nhật Bản, EU... yêu cầu rất cao về dư lượng hóa chất trong khi canh tác lúa ở Việt Nam theo hướng thâm canh 3 vụ mỗi năm khiến môi trường bị tác động, khó đáp ứng tiêu chuẩn. “Đã có trường hợp doanh nghiệp bị trả hàng về, cái giá phải chịu là rất lớn”, ông dẫn chứng, đồng thời tái khẳng định, doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ hiệu quả và rủi ro khi chọn thị trường.
Muốn vào thị trường cao cấp, được ưu đãi hoặc miễn thuế, theo gợi ý của ông Việt Anh, cần chấp nhận giảm vụ để khôi phục môi trường sản xuất. Điều này giúp sản phẩm đáp ứng yêu cầu về mặt chất lượng hoặc phải xây dựng chương trình sản xuất riêng.
Ông Phạm Hoàng Lâm, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Lam Rice Group INC, cho rằng Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu, nhưng chưa kiểm soát được thị trường nên giá trị thu về còn thấp.
Phần lớn giá trị gia tăng nằm ở khâu trung gian và hệ thống phân phối quốc tế. Trong khi đó, xu hướng tiêu dùng tại Mỹ, Canada, EU đang chuyển mạnh sang gạo thơm, gạo sạch, có truy xuất nguồn gốc- phân khúc mà Việt Nam có tiềm năng, nhất là với dòng gạo ST25.
Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả, cần phát triển hệ thống phân phối, trong đó, 5-10 doanh nghiệp dẫn đầu cần bắt tay để có tiềm lực mạnh về vốn, xây dựng chiến lược và mạng lưới phân phối quốc tế. “Nếu không có kế hoạch, định hình chiến lược, trong 5-10 năm tới thì Việt Nam vẫn chỉ là nhà cung cấp nguyên liệu, chưa thể trở thành quốc gia dẫn dắt thị trường”, ông nói.











