Vì sao Rằm tháng giêng được gọi là Tết Lại?
Rằm tháng giêng - đêm trăng tròn đầu tiên của năm mới - từ lâu được người Việt coi trọng không kém Tết Nguyên đán. Dân gian có câu 'Cúng quanh năm không bằng Rằm tháng giêng', cho thấy vị thế đặc biệt của ngày này trong hệ thống lễ tiết truyền thống.
Nhiều tư liệu - từ thư tịch đến các khảo cứu của các học giả trong nước và phương Tây ở Đông Dương - cho thấy Rằm tháng Giêng là ngày lễ quan trọng; được xem như một “cái Tết nữa” của năm mới, tức Tết Lại.
Một cái Tết tiếp nối Tết Nguyên đán
Trong hệ thống lễ tiết Á Đông, Rằm tháng giêng là Tết Thượng nguyên, đứng đầu bộ ba Tam Nguyên: Thượng nguyên (Rằm tháng giêng), Trung nguyên (Rằm tháng bảy) và Hạ nguyên (Rằm tháng mười). Theo quan niệm Đạo giáo, đây là ngày vía Thiên quan - vị thần “tứ phước”, ban phúc lành cho nhân gian. Chính ý nghĩa cầu phúc đầu năm ấy khiến Thượng nguyên được coi trọng hơn hai kỳ còn lại.
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Huỳnh Ngọc Trảng cho biết, trong ba vị Tam quan (Thiên quan - Địa quan - Thủy quan), người ta đề cao Thiên quan hơn cả, nên Rằm tháng Giêng được xem là dịp quan trọng nhất. Quan niệm “cúng quanh năm không bằng Rằm tháng giêng” vì thế phản ánh niềm tin rằng phúc lộc đầu năm phải được định hình từ đêm trăng tròn đầu tiên.
Trong Phật giáo, ngày này còn là Tết Nguyên tiêu - đêm trăng đầu tiên của năm mới, khi chư tăng tập trung nghe thuyết pháp, phật tử đi chùa cầu an, phóng sinh. Nhiều gia đình vừa cúng Phật bằng mâm chay, vừa cúng gia tiên bằng mâm mặn. Tính chất “song trùng” ấy -vừa lễ Phật, vừa lễ tổ - làm cho Rằm tháng giêng mang dáng dấp của một cái Tết tiếp nối Tết Nguyên đán.
Tư liệu phương Tây cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cho thấy diện mạo phong phú của Rằm tháng Giêng tại Việt Nam. Trong cuốn Phép thờ cúng của người An Nam, học giả Gustave Dumoutier ghi nhận ngày này là Lễ hội Trạng nguyên. Đêm rằm trở thành dịp vinh danh người đỗ đạt, thanh niên trai tráng tham gia các trò vui. Người nuôi tằm dâng cúng tổ nghề món canh hoa có nước béo; trong mâm lễ bắt buộc phải có canh đậu. Tập tục cắm nhánh cây, đặt lễ dưới bóng râm để xác định nơi tế lễ được ông dẫn lại từ sách Kinh Sở tuế thời ký của Trung Hoa thế kỷ VI.
Như vậy, Rằm tháng Giêng không chỉ là ngày cầu phúc, mà còn là lễ hội mang dấu ấn học hành, khoa cử. Từ đây, có thể hiểu vì sao dân gian gọi là “Trạng nguyên” - người đỗ đầu. Tinh thần trọng chữ nghĩa hòa quyện vào nghi lễ đầu năm, làm nên một tầng ý nghĩa khác của Tết Lại: cầu công danh.
Trong khi đó, Paul Ory - công sứ Pháp từng làm việc ở Bắc Kỳ - lại ghi chép về “lễ đăng tiết” hay lễ đèn lồng diễn ra vào đêm 15 tháng Giêng. Theo ông, đây là lễ hội tôn vinh Thái Ất - vị thần tượng trưng cho nguyên lý tối thượng chi phối vạn vật. Các “kỳ lão” và “bà vãi” chủ trì nghi thức, cầu cho mùa màng bội thu, con cháu đông đúc. Ban thờ trang hoàng hoa và đèn lồng, bày lễ vật hình thỏi vàng, thỏi bạc bằng giấy. Sau nghi lễ, dân làng cùng dự bữa cỗ với bánh nếp nhiều màu, thịt gà, chuối, trầu cau; đồ uống chủ yếu là trà xanh.
Không khí ấy, đèn lồng, cỗ bàn, hội hè khiến Rằm tháng giêng mang dáng dấp một Tết hội làng. Nếu Tết Nguyên đán nghiêng về gia đình, thì đêm rằm Thượng nguyên mở rộng ra không gian cộng đồng.

Người Việt rất coi trọng ngày Rằm tháng giêng. Ảnh: Chí Toàn.
Tết lại trong tâm thức người Việt
Theo ghi chép của Gustave Dumoutier, Rằm tháng giêng còn là dịp mỗi gia đình dâng lễ lên chư vị Phúc thần. Phụ nữ và trẻ nhỏ mặc trang phục đẹp, đến chùa miếu gửi danh sách tên tuổi tổ tiên để thầy chùa đọc trước ban thờ. Tập tục này cho thấy một hình thức “trình diện” gia tộc trước thần linh đầu năm.
Trong một số truyền thuyết, ngày 15 tháng giêng còn gắn với chiến thắng của tướng Nùng Chí Cao hay sự tích con gái Xích Đế hóa chim thước bay về trời. Những mảnh ghép ấy làm phong phú thêm lớp nghĩa dân gian của ngày rằm đầu năm.
Không chỉ mang ý nghĩa lễ Thượng nguyên hay ngày cầu phúc đầu năm, trong tâm thức người Việt, Rằm tháng giêng còn được xem là “Tết muộn”. Theo PGS.TS Bùi Xuân Đính (sách Bách khoa thư về làng Việt cổ truyền), sau Tết Nguyên đán, nhiều gia đình vẫn tiếp tục không khí xuân vào dịp này: gói bánh chưng, bày mâm cỗ, chơi mai đào nở muộn. Bởi vậy dân gian gọi đây là Tết lại - cái Tết trở lại sau Tết chính.
Với những người đau ốm trong dịp đầu năm hoặc những gia đình có tang chưa kịp hưởng trọn niềm vui đoàn viên, rằm tháng Giêng trở thành dịp “ăn Tết bù”, như một cách hoàn tất mùa xuân còn dang dở.
Theo quan niệm dân gian, muốn bắt tay vào việc lớn cũng phải chờ “qua Rằm tháng giêng”. Người dự định đi làm ăn xa thường nán lại, đợi qua ngày rằm mới lên đường. Đó không chỉ là mốc kết thúc mùa Tết, mà còn là một nghi thức tinh thần - xin phép tổ tiên và thần linh trước khi bước vào hành trình mới của năm.
Tóm lại, Rằm tháng giêng được gọi là Tết Lại không chỉ vì còn cỗ bàn, hội hè sau Tết Nguyên đán, mà quan trọng hơn, đây là mốc khép lại trọn vẹn mùa xuân và xác lập nhịp sống mới của năm. Nếu Tết Nguyên đán mở ra một chu kỳ thời gian mới, thì Rằm tháng giêng chính là bước hoàn tất, giúp năm mới trở nên đủ đầy hơn.
Nguồn Znews: https://znews.vn/vi-sao-ram-thang-gieng-duoc-goi-la-tet-lai-post1631428.html












