Vị tiền hiền làng Trang Điền
Làng Trang Điền nằm về phía nam sông Vu Gia, trước đây thuộc xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Vu Gia, thành phố Đà Nẵng. Nơi đây tọa lạc ngôi mộ vị Tiền hiền của làng giữa cánh đồng lộng gió, như một minh chứng về công lao khai sơn phá thạch, khai canh, khai cư của cha ông ta trên hành trình mở cõi về phương Nam 555 năm trước…

Cổ chỉ lập ngày 30/10 năm Minh Mạng thứ 11 (1830) được tộc Nguyễn Văn làng Trang Điền cất giữ gần 2 thế kỷ. Tư liệu do tộc Nguyễn Văn cung cấp.
Làng Trang Điền xưa
Tư liệu Quảng Nam xã chí, ký hiệu AJ.23/8 ghi chép cuộc điều tra năm 1944 của Viện Viễn Đông Bác cổ cho biết: Trang Điền thuộc tổng Quảng Hòa, phủ Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Làng này không có “quan lộ” (tức đường cái quan), “muốn đến làng này thì theo đường quan lộ số 104, đến Mỹ Lộc (thuộc huyện Duy Xuyên trước đây) km 22 qua đò (sông Thu Bồn) là Giảng Hòa, khỏi làng ấy hướng Bắc là Trang Điền”.
Trang Điền lúc bấy giờ “diện tích có 216 mẫu, nhơn số cả thảy 500 người. Nhân dân phần nhiều chuyên về làm nông. Thổ sản nhiều nhứt là lúa, cũng có dâu, bông, sắn, bắp”.
Tư liệu nói trên cũng cung cấp thông tin: Tên gọi làng Trang Điền chỉ xuất hiện từ triều Minh Mạng, sau cuộc cải cách hành chính lớn vào những năm 1831 - 1832, khi mà trấn Quảng Nam trở thành tỉnh Quảng Nam.
Đúng dịp kỷ niệm 555 năm thành lập Đạo Thừa tuyên Quảng Nam - đơn vị hành chính cấp tỉnh thứ 13 của quốc gia Đại Việt (1471 - 2026), chúng tôi về làng Trang Điền ngõ hầu tìm hiểu thêm gốc tích của làng và vị Tiền hiền khai khẩn lập nên vùng đất này.
Rất may mắn là cho đến nay, trải qua bao biến thiên dâu bể, tộc Nguyễn Văn vẫn lưu giữ cẩn thận một cổ chỉ lập ngày 30/10 năm Minh Mạng thứ 11 (1830), nghĩa là có “tuổi thọ” gần 200 năm.
Theo nội dung cổ chỉ này, làng Trang Điền vào thập kỷ 30 của thế kỷ 19 thuộc tổng Quảng Đại Thượng, huyện Duy Xuyên, phủ Thăng Hoa, trấn Quảng Nam và có tên gọi là Điền Trang Vu Gia trại. Trại này được lập ra bởi chiến binh Nguyễn Văn Nghị, Thủy tổ tộc Nguyễn Văn. Ông nguyên quán huyện Nghi Xuân, thừa tuyên Nghệ An. Vào năm Hồng Đức thứ nhất (1470), theo vua Lê Thánh Tông Nam chinh đánh Chiêm Thành. Sau đó, tìm đến vùng thượng du Ô Châu, thấy đất đai rộng rãi nên đã mộ dân khẩn trị, được hơn một trăm mẫu, đặt tên hiệu là: Điền Trang Vu Gia trại.

Mộ Tiền hiền làng Trang Điền - Nguyễn Văn Nghị. Ảnh: V.T
Người lập “Điền Trang Vu Gia trại”
Như vậy, Nguyễn Văn Nghị thuộc lớp lưu dân đầu tiên “Bắc địa tùng vương khai Quảng thổ” (từ đất Bắc theo vua Lê Thánh Tông vào khai mở đất Quảng Nam). Việc ông hưởng ứng chính sách mở cõi của triều đình, tình nguyện ở lại vùng đất Bắc Quảng Nam và tổ chức mộ dân khẩn hoang được hơn 100 mẫu đất (một diện tích khá lớn) để hình thành Điền Trang Vu Gia trại quả thật đáng nể phục. Hẳn ông phải có tài năng nổi trội và đức độ mới có thể thu phục nhân tâm và kinh bang tế thế trong bối cảnh địa lý và chính trị nơi đây đầy rối rắm.
Đó là chưa kể trong thời kỳ này, đất Quảng còn có sự hiện diện khá đông đảo người Chăm ở lại sau chiến thắng năm 1471 của Đại Việt, tạo nên sự đan xen phức tạp giữa làng người Việt di cư vào và làng của người Chăm.
Điểm đáng chú ý là cổ chỉ mà tộc Nguyễn Văn đang lưu giữ nói trên không phải là giấy tờ nội bộ của làng mà đã được chính quyền triều Nguyễn (cấp tỉnh) thời Minh Mạng công nhận qua sự tiếp nhận tại một cơ quan chuyên môn của trấn Quảng Nam và đã được kiểm tra kỹ lưỡng bởi hai viên lại dịch trước khi được Trấn thủ Quảng Nam phê chuẩn vào ngày 19/4 năm Minh Mạng thứ 12 (1831), đóng ấn “Quảng Nam trấn ấn”. Do vậy, văn bản này có giá trị pháp lý cao trong việc khẳng định vai trò to lớn của Thủy tổ tộc Nguyễn Văn - ông Nguyễn Văn Nghị - trong việc tạo dựng nên Điền trang Vu Gia trại, tiền thân của làng Trang Điền.
Hơn một thế kỷ sau, danh hiệu “Tiền hiền” của ông Nguyễn Văn Nghị còn được nhắc đến trong tư liệu Quảng Nam xã chí. Tư liệu này cũng cho hay, vào tháng 6 năm Thành Thái thứ 19 (1907) hào lý làng Trang Điền đã “trích đất kỵ tộc tiền hiền Nguyễn Văn” vào ngày 20/7 âm lịch hằng năm tại đình làng, với 1 mẫu 2 sào ở xứ đất Trà Nô.
Đáng tiếc là con cháu tộc Nguyễn Văn không nắm rõ hành trạng của vị Thủy tổ, ngoài dòng chữ Hán được khắc trên bia mộ ông, được lập dưới triều Duy Tân (nay vẫn còn giữ được), tạm dịch nghĩa: Mộ của vị Thủy tổ, bậc Tiền hiền khai khẩn đất Trang Điền, họ Nguyễn, tự là Bất Di.
Ngay sau khi chiến tranh ác liệt kết thúc, con cháu nội ngoại dòng tộc Nguyễn Văn ở mọi miền Tổ quốc đã xây dựng lại mộ Thủy tổ. Đặc biệt, khu mộ này vừa được đại trùng tu khang trang, bề thế, khánh thành đúng dịp kỷ niệm 555 năm công cuộc bình Chiêm của Lê Thánh Tông - vị anh quân lỗi lạc trong lịch sử dân tộc Việt.
Trong bài viết Dấu tích tiền hiền Quảng Nam trong bia đá, nhà nghiên cứu Nguyễn Dị Cổ cho rằng, “trong lịch sử làng xã Việt Nam, tộc họ tiền hiền có địa vị và thanh thế quan trọng trong làng mạc”. Theo chúng tôi, không chỉ vậy, việc lập nên làng Trang Điền của Tiền hiền Nguyễn Văn Nghị còn là minh chứng sống động cho tiến trình Nam tiến của dân tộc Việt vào cuối thế kỷ 15, xác lập chủ quyền quốc gia trên vùng đất Quảng xưa.
Thiết nghĩ, mộ vị Tiền hiền làng Trang Điền - Nguyễn Văn Nghị cần sớm được xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố. Đây không chỉ nhằm tri ân và tôn vinh công lao to lớn của ông đối với lịch sử hình thành và phát triển làng xã ở đất Quảng mà còn góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị tinh thần to lớn mà tiền nhân đã trao truyền.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/vi-tien-hien-lang-trang-dien-3333191.html











