Việt Nam có nên làm 'Starlink phiên bản riêng'?

Ý tưởng xây dựng một hệ thống vệ tinh tầm thấp do Việt Nam làm chủ, tương tự Starlink, dễ tạo cảm hứng về tự chủ công nghệ nhưng nếu đi sâu vào bài toán thực tế, đây là một mục tiêu cực kỳ thách thức.

Việc cho phép thí điểm dịch vụ vệ tinh tầm thấp (LEO) giai đoạn 2025–2030 cho thấy một thay đổi rõ rệt trong tư duy quản lý hạ tầng viễn thông của Việt Nam. Thay vì chỉ dựa vào cáp quang – vốn tốn kém và dễ bị gián đoạn, đặc biệt với cáp biển – Việt Nam bắt đầu tiếp cận một mô hình kết nối hoàn toàn khác: Internet từ không gian.

LEO có ưu thế đặc biệt khi không cần kéo cáp, có thể phủ sóng ở những khu vực mà hạ tầng truyền thống khó vươn tới. Với một quốc gia có địa hình trải dài, nhiều vùng núi và biển đảo như Việt Nam, đây không chỉ là giải pháp bổ sung, mà còn có thể trở thành một “lớp hạ tầng thứ hai”.

Trong ngắn hạn, công nghệ này sẽ phát huy rõ vai trò tại vùng sâu, vùng xa, khu vực hải đảo, hoặc trong các tình huống khẩn cấp như thiên tai, đứt cáp biển. Về dài hạn, LEO có thể giúp rút ngắn khoảng cách số giữa các khu vực, tạo nền tảng cho kinh tế số phát triển đồng đều hơn.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận rõ ở giai đoạn hiện tại, Việt Nam đang mở cửa để sử dụng LEO, chưa phải làm chủ công nghệ này.

Việc cho phép thí điểm dịch vụ vệ tinh tầm thấp (LEO) giai đoạn 2025–2030, cho thấy một thay đổi rõ rệt trong tư duy quản lý hạ tầng viễn thông của Việt Nam.

Việc cho phép thí điểm dịch vụ vệ tinh tầm thấp (LEO) giai đoạn 2025–2030, cho thấy một thay đổi rõ rệt trong tư duy quản lý hạ tầng viễn thông của Việt Nam.

Giấc mơ "Starlink Việt Nam" vẫn còn “gánh nặng đường xa”

Ý tưởng xây dựng một hệ thống vệ tinh tầm thấp do Việt Nam làm chủ, tương tự Starlink, dễ tạo cảm hứng về tự chủ công nghệ. Nhưng nếu đi sâu vào bài toán thực tế, đây là một mục tiêu cực kỳ thách thức.

Trước hết là vấn đề chi phí. Một chòm vệ tinh LEO hoàn chỉnh cần hàng trăm đến hàng nghìn vệ tinh, cùng với hệ thống trạm mặt đất và công nghệ vận hành toàn cầu. Tổng mức đầu tư có thể lên tới hàng chục tỷ USD, vượt xa khả năng của phần lớn các chương trình không gian hiện nay.

Quan trọng hơn, LEO không chỉ là câu chuyện phóng vệ tinh. Đó là cả một hệ sinh thái gồm sản xuất công nghiệp quy mô lớn, điều khiển quỹ đạo bằng thuật toán phức tạp, công nghệ truyền dẫn băng thông cao và năng lực phóng với chi phí thấp. Việt Nam hiện mới ở giai đoạn đầu với các vệ tinh nhỏ, nên khoảng cách công nghệ là rất đáng kể.

Bài toán kinh tế cũng là một rào cản lớn. Các hệ thống như Starlink chỉ hiệu quả khi phục vụ thị trường toàn cầu với hàng triệu thuê bao. Nếu chỉ triển khai trong phạm vi một quốc gia, khả năng thu hồi vốn là rất thấp.

Nói cách khác, nếu theo đuổi mô hình “tự làm từ đầu”, nguy cơ thất bại cả về tài chính lẫn công nghệ là hiện hữu.

Như vậy, thay vì chạy đua xây dựng một hệ thống LEO riêng, Việt Nam có nhiều lựa chọn thực tế và hiệu quả hơn để tham gia vào lĩnh vực này. Có một cách tiếp cận đáng chú ý khác là “chủ quyền mềm”. Thay vì sở hữu vệ tinh, Việt Nam có thể kiểm soát các yếu tố then chốt như trạm mặt đất, dữ liệu và người dùng thông qua khung pháp lý. Điều này vừa đảm bảo an ninh thông tin, vừa tận dụng được công nghệ tiên tiến từ bên ngoài.

Ông Đoàn Quang Hoan, Phó Chủ tịch Hội Vô tuyến điện tử cho rằng, việc cấp phép cho Stalink hoạt động tại Việt Nam mang đến cho các nhà mạng cả cơ hội và thách thức. Đó là làm sao tận dụng được lợi thế công nghệ của nó và có chỗ đứng tốt trong hệ sinh thái mới mà nó tạo ra.

Theo phân tích của ông Đoàn Quang Hoan, Việt Nam mong muốn có hệ thống vệ tinh quỹ đạo thấp của riêng mình để cung cấp dịch vụ băng rộng. Tuy nhiên, với nhiều lí do, cơ hội cho Việt Nam trong 5-10 năm tới là rất thấp. Trong đó hai lí do quan trọng nhất là năng lực đầu tư và quỹ đạo vệ tinh. Để có được một hệ thống vệ tinh quỹ đạo thấp cung cấp dịch vụ Internet các nhà cung cấp phải đầu tư hàng chục tỷ USD. Ngay cả khi chỉ mong muốn đầu tư một mạng quy mô nhỏ phủ sóng dịch vụ khu vực hẹp thì vốn đầu tư cũng không nhỏ vì giá sản xuất và phóng vệ tinh sẽ rất đắt, chi phí khai thác, thay thế vệ tinh (tuổi thọ khoảng 5 năm) cũng rất lớn. Với khả năng phát triển thuê bao rất nhỏ ở thị trường ngách như vùng sâu, vùng xa, tàu biển… thì không có hiệu quả kinh tế.

Lí do thứ hai mà ông Hoan đề cập đến là quỹ đạo vệ tinh. Quỹ đạo dưới 1.000 km hiện nay đã vô cùng chật chội vì đã có hơn 6.000 vệ tinh của Stalink và hàng ngàn vệ tinh của các hệ thống khác đang khai thác, chưa kể hàng chục ngàn vệ tinh đã được đăng ký với Liên minh viễn thông quốc tế ITU. Cơ hội để có thể phối hợp thành công quỹ đạo vệ tinh cho hệ thống mới là rất thấp và đòi hỏi tiêu tốn nhiều nguồn lực. Lưu ý rằng, thời hạn để đưa vệ tinh vào sử dụng kể từ khi đăng ký với ITU chỉ là 7 năm.

Việt Nam nên là “người sử dụng thông minh”

Phân tích tiếp về vấn đề này, theo ông Đoàn Quang Hoan, trong 5-10 năm tới Việt Nam nên là “người sử dụng thông minh”, dần nâng cấp thành người đồng kiến tạo hệ thống và trở thành trung tâm tích hợp (Non Terrestrial Networks-NTN) của khu vực. Việt Nam có lợi thế hơn so với nhiều nước cấp phép cho Starlink là buộc Starlink phải đặt 4 trạm Gatetway ở Việt Nam. Đó có thể là một điểm nút để Việt Nam có thể lựa chọn vị trí thích hợp trong chuỗi cung ứng dịch viễn thông mới, với sự kết nối mạng viễn thông mặt đất với mạng phi mặt đất (Non Terrestrial Networks-NTN). Hệ thống mạng mặt đất rất mạnh với mạng lõi và hệ thống truyền dẫn tương đối hiện đại FTTH phủ sâu, 4G/5G phủ gần toàn dân. Đây là một lợi thế lớn giúp Việt Nam có cơ hội lớn để đạt được vị trí này.

Tuy nhiên, ông Đoàn Quang Hoan cho rằng, “người sử dụng thông minh” không thể là người sử dụng thụ động. Nếu chỉ mua dịch vụ như một khách hàng bình thường thì chưa đủ thông minh. Vì vậy, việc sử dụng thông minh phải gồm 4 điều kiện: đa nguồn, không nên chỉ phụ thuộc vào Starlink; kiểm soát được thành phần mặt đất; tích hợp được vào chiến lược dự phòng quốc gia; tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc tế.

Để đạt được mục tiêu này và sử dụng hiệu quả hệ thống đã được cấp phép, Việt Nam nên có ngay dự án tích hợp NTN nói chung và Stalink nói riêng với mạng mặt đất, đặc biệt là mạng 5G để phục vụ một số ngành kinh tế quan trọng cần đến LEO như nghề cá xa bờ, vận tải, khai thác dầu khí. Từ đó phát triển một chiến lược quốc gia thích hợp, tiến tới trở thành trung tâm tích hợp NTN khu vực.

Điều quan trọng hơn là lựa chọn chiến lược phù hợp. Trong một thế giới công nghệ toàn cầu hóa, tự chủ không còn đồng nghĩa với việc phải tự làm tất cả. Một cách tiếp cận thông minh hơn là tận dụng công nghệ quốc tế, đồng thời làm chủ những khâu có giá trị cao và phù hợp với năng lực.

Thái Khang

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/viet-nam-co-nen-lam-starlink-phien-ban-rieng-2498384.html