Việt Nam với hòa bình, ổn định và luật pháp trên Biển Đông: Từ cam kết đến thực thi

Trong xử lý vấn đề Biển Đông, Việt Nam kiên trì theo đuổi hai yêu cầu chiến lược xuyên suốt là bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp đồng thời duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực. Chính sách này thể hiện qua việc đề cao luật pháp quốc tế, giải quyết bất đồng thông qua đàm phán và thúc đẩy hợp tác khu vực đối phó với các thách thức chung.

Lá cờ Tổ quốc tung bay tại khu vực đảo Sinh Tồn Đông, quần đảo Trường Sa. (Ảnh: Nguyễn Hồng)

Lá cờ Tổ quốc tung bay tại khu vực đảo Sinh Tồn Đông, quần đảo Trường Sa. (Ảnh: Nguyễn Hồng)

Phát biểu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 22/9 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tái khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), đồng thời kiên quyết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và thúc đẩy hợp tác biển. Thông điệp này là kết tinh của nền ngoại giao hiện đại nơi pháp lý, đàm phán và hợp tác quốc tế luôn gắn kết, bổ trợ hiệu quả cho nhau.

Luật pháp tạo nền tảng chung

Hiến chương Liên hợp quốc quy định nghĩa vụ giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế, cấm đe dọa và sử dụng vũ lực. Trong khi đó, UNCLOS cụ thể hóa khuôn khổ pháp lý về quyền, nghĩa vụ và cơ chế giải quyết tranh chấp biển. Với Biển Đông, UNCLOS không chỉ để trích dẫn mà là cơ sở đối chiếu yêu sách, xác định phạm vi quyền hạn và định hướng ứng xử. Bảo vệ quyền lợi quốc gia phải luôn song hành với tôn trọng quyền và các lợi ích hợp pháp của nước khác trên cơ sở chuẩn mực chung.

Ngày 17/7/2024, Việt Nam nộp đệ trình Ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng tại Biển Đông lên Liên hợp quốc, hoàn thiện hệ thống ranh giới biển quốc gia. Khẳng định đệ trình không phương hại phân định biển với các nước, động thái này gắn liền bảo vệ lập trường với cơ sở pháp lý, khoa học vững chắc. Qua đó, các lập trường của Việt Nam về ranh giới biển được minh bạch hóa trong khuôn khổ UNCLOS.

Năm 2021, Việt Nam và Đức đã đồng khởi xướng Nhóm bạn bè của UNCLOS tại Liên hợp quốc. Tháng 6/2026, Việt Nam tiếp tục chủ trì tọa đàm về an ninh và tự do trên biển bên lề Hội nghị lần thứ 36 các quốc gia thành viên Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (SPLOS 36). Các kênh này gắn kết lập trường quốc gia với quan tâm chung, hướng tới duy trì khuôn khổ pháp lý điều chỉnh mọi hoạt động trên biển.

Đàm phán xử lý bất đồng, phối hợp quản lý rủi ro

Thực tiễn đàm phán phân định biển là nỗ lực hiện thực hóa hòa bình. Việt Nam hoàn thành phân định ranh giới biển với Thái Lan (1997), với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ (2000), ranh giới thềm lục địa với Indonesia (2003) và hoàn tất đàm phán phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia (2022). Các đường biên giới biển này tạo cơ sở pháp lý để thực thi quyền hạn và giải quyết vấn đề, xóa bỏ sự mơ hồ về phạm vi không gian biển.

Dù liên hệ mật thiết, phân định biên giới và quản lý rủi ro là hai công tác khác biệt. Nếu biên giới giải quyết bài toán phân định, cơ chế liên lạc giúp trao đổi kịp thời khi cần phối hợp. Với các vấn đề còn bất đồng, khả năng xác minh thông tin nhanh chóng đóng vai trò then chốt để ngăn ngừa hiểu lầm, tránh sự cố leo thang cục bộ.

Tuyên bố chung Việt Nam – Philippines ngày 1/6/2026 nhấn mạnh tăng cường phòng ngừa, quản lý sự cố Biển Đông, thúc đẩy hợp tác cảnh sát biển và duy trì đường dây nóng. Thực tiễn diễn tập chung giữa cảnh sát biển hai nước tháng 8/2024 về chữa cháy, cứu nạn cho thấy, nếu đường dây nóng là đầu mối thông tin, luyện tập giúp lực lượng thực địa phối hợp nhuần nhuyễn. Đây là mắt xích chuyển hóa cam kết ngoại giao thành năng lực xử lý tình huống.

Ở cấp khu vực, Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) cam kết giải quyết tranh chấp hòa bình, tự kiềm chế và xây dựng lòng tin. Tháng 7/2026, Việt Nam tái khẳng định quyết tâm xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (COC) thực chất, hiệu lực và phù hợp với UNCLOS. Nỗ lực này là một phần trong tiến trình hợp tác ASEAN - Trung Quốc, nơi hiệu quả thực sự phụ thuộc vào thiện chí hiện thực hóa cam kết thành hành động.

Do đó, đàm phán song phương giải quyết vùng chồng lấn, trong khi đa phương xử lý an toàn hàng hải, môi trường và quy tắc ứng xử. Kết hợp hài hòa các kênh giúp xử lý bất đồng cụ thể và duy trì ổn định chung. Các cơ chế này tương trợ, bổ khuyết chứ không bài trừ lẫn nhau.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Đối thoại Biển lần thứ 15 tổ chức ở Hà Nội, ngày 18/9. (Ảnh: Thành Long)

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Đối thoại Biển lần thứ 15 tổ chức ở Hà Nội, ngày 18/9. (Ảnh: Thành Long)

Không cần đợi giải quyết xong tranh chấp mới hợp tác. DOC vạch rõ các lĩnh vực ưu tiên như môi trường biển, nghiên cứu khoa học, an toàn hàng hải và cứu nạn. Khi đạt đồng thuận về phạm vi và trách nhiệm, các hoạt động này mang lại lợi ích thiết thực bất chấp khác biệt.

Trên bình diện toàn cầu, ngày 9/6/2025, Việt Nam nộp văn kiện phê duyệt Hiệp định về đa dạng sinh học biển ngoài quyền tài phán quốc gia (BBNJ). Khi Hiệp định có hiệu lực từ 17/1/2026, quá trình tham gia đòi hỏi quốc gia thành viên chuẩn bị năng lực và chủ động thực thi. Kinh nghiệm từ BBNJ có thể trở thành nguồn lực bổ trợ đắc lực cho hợp tác khu vực.

Đối thoại dựa trên nền tảng tri thức khoa học

Chuỗi sự kiện do Học viện Ngoại giao chủ trì vừa qua và thời gian tới thể hiện cách tiếp cận khách quan, tích cực của Việt Nam. Đối thoại Biển lần thứ 15 ngày 18/9 tại Hà Nội tập trung thảo luận triển khai BBNJ. Bước vào giai đoạn thực thi, vấn đề cốt lõi là cơ chế thực hiện và nguồn lực, điểm giao thoa giữa học thuật và chính sách, là cầu nối giữa văn kiện pháp lý và hành động thực tế.

Ngày 23/9, Học viện Ngoại giao phối hợp với Quỹ Konrad Adenauer (Đức) và Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội khởi động dự án nghiên cứu “Ngoại giao biển hướng tới gìn giữ các giá trị toàn cầu”. Dự án này thể hiện vai trò dẫn dắt của Việt Nam trong kết nối giới chính sách và giới chuyên gia, giữa khoa học và thực tiễn, giữa ý chí và năng lực thực thi. Cam kết hòa bình được chuyển hóa thành hoạt động xây dựng năng lực và chia sẻ tri thức thực chất.

Các nỗ lực kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại cũng được chú trọng. Diễn đàn Biển Việt Nam sẽ được tổ chức ngày 2/10 tới đây với chủ đề “Hợp tác và hội nhập quốc tế trong xây dựng Việt Nam thành quốc gia biển mạnh”. Sáng kiến mới mở ra là không gian hợp tác giữa bên trong và bên ngoài, khẳng định quyết tâm hội nhập, tận dụng nguồn lực quốc tế để phát triển sức mạnh biển quốc gia.

Trải qua 18 năm, Hội thảo quốc tế về Biển Đông vẫn luôn là “diễn đàn nóng”, thu hút ngày càng nhiều sự quan tâm của quốc tế. Hội thảo tạo không gian tranh luận khách quan, trung thực, gắn kết chuyên gia với đòi hỏi thực tiễn, gắn kết chính sách với khoa học, qua đó là sáng tỏ nhiều vấn đề cốt lõi, đồng thời tìm ra các biện pháp khả thi để quản lý tranh chấp và thúc đẩy các giải pháp căn bản, lâu dài.

Tất cả thực tiễn trên minh chứng duy trì hòa bình và bảo vệ quyền lợi không mâu thuẫn, mà có mối liên hệ biện chứng. Các thỏa thuận phân định xóa bỏ mập mờ; quản lý sự cố duy trì đối thoại; hợp tác vun đắp lòng tin. Cách tiếp cận của Việt Nam hội tụ trong mục tiêu kép là bảo vệ vững chắc lợi ích hợp pháp gắn với duy trì hòa bình, ổn định. Mối liên hệ biện chứng được phát huy tối đa thông qua “công thức” của Việt Nam: tôn trọng luật pháp quốc tế, thiện chí trong thực thi cam kết, sẵn sàng kiểm soát bất đồng và mở rộng hợp tác vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.

TS. Đỗ Thanh Hải

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/viet-nam-voi-hoa-binh-on-dinh-va-luat-phap-tren-bien-dong-tu-cam-ket-den-thuc-thi-449769.html