Viglacera báo lãi 9 tháng tăng 85%, dòng tiền giảm hơn 1.456 tỷ đồng
Tổng Công ty Viglacera – CTCP ghi nhận lợi nhuận sau thuế hợp nhất 9 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 1.769 tỷ đồng, tăng 85,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi kết quả kinh doanh cải thiện, dòng tiền thuần trong kỳ âm hơn 1.456 tỷ đồng, còn hàng tồn kho tăng lên hơn 10.413 tỷ đồng, phần lớn tập trung tại các dự án bất động sản và khu công nghiệp đang triển khai.
Lợi nhuận quý III tăng mạnh
Theo báo cáo tài chính hợp nhất quý III/2026, Viglacera ghi nhận doanh thu thuần gần 3.795 tỷ đồng, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước. Giá vốn hàng bán chỉ tăng 0,9%, giúp lợi nhuận gộp tăng 74,8%, lên gần 1.209 tỷ đồng.
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh đạt gần 735,9 tỷ đồng, tăng 305,9%. Cùng với khoản lợi nhuận khác hơn 93,1 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 829 tỷ đồng, tăng 360,6%. Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 616 tỷ đồng, tăng 423,6%; trong đó, phần thuộc cổ đông công ty mẹ đạt gần 463,7 tỷ đồng, tăng 402,7%.
Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, doanh thu thuần của Viglacera đạt hơn 11.531 tỷ đồng, tăng 23,5%; lợi nhuận gộp đạt gần 3.447 tỷ đồng, tăng 28,4%. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh đạt hơn 2.150 tỷ đồng, tăng 65,9%, đưa lợi nhuận trước thuế lên hơn 2.281 tỷ đồng, tăng 72,6%.
Lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt hơn 1.769 tỷ đồng, tăng 85,1% so với cùng kỳ. Trong đó, lợi nhuận thuộc cổ đông công ty mẹ đạt gần 1.242,5 tỷ đồng, tăng 46%; phần thuộc cổ đông không kiểm soát đạt hơn 526,6 tỷ đồng, tăng 402,4%.

Viglacera ghi nhận lợi nhuận sau thuế 9 tháng đầu năm 2026 tăng 85,1%
Hàng tồn kho vượt 10.400 tỷ đồng
Tại ngày 30/9/2026, tổng giá gốc hàng tồn kho của Viglacera đạt hơn 10.413 tỷ đồng, tăng 9,1% so với đầu năm. Sau khi trừ dự phòng giảm giá hàng tồn kho gần 167,9 tỷ đồng, giá trị hàng tồn kho còn hơn 10.245 tỷ đồng.
Đáng chú ý, chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang đạt hơn 7.368 tỷ đồng, tăng 8,2% so với đầu năm. Trong đó, chi phí dở dang tại các dự án bất động sản và xây dựng chiếm hơn 7.291,8 tỷ đồng, tăng 8% và tương đương khoảng 70% tổng giá gốc hàng tồn kho.
Một số dự án có giá trị dở dang lớn gồm Khu công nghiệp Thuận Thành giai đoạn 1 với hơn 1.713,6 tỷ đồng, giảm 3,6% so với đầu năm; Khu công nghiệp Sông Công II giai đoạn 2 đạt hơn 1.136,8 tỷ đồng, tăng 40,6%; Khu công nghiệp Dốc Đá Trắng đạt hơn 712,5 tỷ đồng, tăng 66,1%.
Tại Khu công nghiệp Trấn Yên, chi phí dở dang đạt hơn 380,9 tỷ đồng, tăng 117,6%. Trong khi đó, Khu công nghiệp Phú Hà giai đoạn I ghi nhận hơn 600,1 tỷ đồng, giảm 9,3%; Khu công nghiệp Phong Điền – Viglacera tại Huế đạt gần 399,7 tỷ đồng, giảm 19,4%.
Giá trị sản phẩm tồn kho đạt hơn 2.176 tỷ đồng, tăng 15,7% so với đầu năm. Tổng dự phòng giảm giá hàng tồn kho giảm 25,2%, từ hơn 224,4 tỷ đồng xuống gần 167,9 tỷ đồng.
Dòng tiền kinh doanh dương, dòng tiền cả kỳ âm
Theo báo cáo lưu chuyển tiền tệ, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt gần 707,8 tỷ đồng, tăng 174,3% so với mức hơn 258,1 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, một số khoản mục vốn lưu động tiếp tục làm giảm dòng tiền. Cụ thể, biến động hàng tồn kho làm giảm dòng tiền gần 867,9 tỷ đồng; các khoản phải thu làm giảm gần 373,9 tỷ đồng và các khoản phải trả làm giảm gần 92 tỷ đồng. Trong kỳ, doanh nghiệp đã chi gần 197,4 tỷ đồng trả lãi vay và hơn 412 tỷ đồng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Dòng tiền thuần từ hoạt động đầu tư âm gần 562,9 tỷ đồng, trong đó tiền chi mua sắm, xây dựng tài sản cố định và các tài sản dài hạn khác đạt hơn 210,7 tỷ đồng, tăng 87% so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý, dòng tiền thuần từ hoạt động tài chính âm hơn 1.601 tỷ đồng, so với mức âm gần 53,9 tỷ đồng cùng kỳ. Viglacera thu hơn 4.839 tỷ đồng từ đi vay nhưng chi hơn 5.248 tỷ đồng trả nợ gốc vay và hơn 1.323,5 tỷ đồng trả cổ tức, lợi nhuận cho chủ sở hữu.
Tính chung, dòng tiền thuần trong 9 tháng đầu năm âm hơn 1.456,3 tỷ đồng, so với mức âm gần 319,7 tỷ đồng cùng kỳ năm 2025. Tiền và các khoản tương đương tiền cuối kỳ còn hơn 917,5 tỷ đồng, giảm 61,4% so với đầu năm.
Tại ngày 30/9/2026, vốn đầu tư của chủ sở hữu tại Viglacera đạt 4.483,5 tỷ đồng, không thay đổi so với đầu năm.
Trong cơ cấu vốn góp, Nhà nước nắm 38,58%, tương ứng gần 1.729,9 tỷ đồng. Công ty Cổ phần Hạ tầng GELEX góp hơn 2.251 tỷ đồng, tương đương 50,21% vốn điều lệ; các cổ đông khác góp gần 502,6 tỷ đồng, chiếm 11,21%.

